Kỳ 5

Sự bắt đầu của màn chung kết

Ngày 10/3/1975, thị xã Ban Mê Thuột của tỉnh Đắc Lắc ở  cao nguyên Trung phần miền Nam Việt Nam sau khi bị quân  Bắc Việt đột kích và tấn công dữ dội đã thất thủ. Tính  từ ngày này cho đến vỏn vẹn 50 ngày sau đó thì thủ đô  Sài Gòn cũng chịu chung số phận như Ban Mê Thuột, đưa  đến sự sụp đổ toàn bộ của chính quyền miền Nam và mở  đầu cho giai đoạn chấm dứt cuộc chiến Việt Nam kéo dài  hơn 30 năm.

Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia liên tục nhận được  viện trợ về kinh tế lẫn quân sự từ Hoa Kỳ. Tuy một phần  lãnh thổ bị quân Bắc Việt chiếm đóng, nhưng quốc gia  này vẫn kiểm soát được khoảng 20 triệu dân và có khoảng  1 triệu quân nhân, đồng thời được sự công nhận của hơn  90 quốc gia trên thế giới lúc bấy giờ. Việt Nam Cộng  Hòa đã hứng chịu sự de dọa và công kích của phía Bắc  Việt trong suốt một thời gian dài để rồi cuối cùng sau  một chiến dịch tấn công quân sự quy mô trong vòng 50  ngày của đối phương, quốc gia này đã bị tiêu diệt hoàn  toàn. Đây là một sự kiện hiếm có đối với nền lịch sử  cận đại của thế giới.

Trong những giai đoạn chuyển biến quan trọng cuối cùng  của cuộc chiến tranh Việt Nam, tôi đã có mặt ở Sài Gòn  với nhiệm vụ thông tin. Thời gian 3 năm làm công tác  phóng viên tại đây, đối với tôi là một chuỗi ngày dài  với những bận rộn về viết lách, những lúc di động cấp  tốc để bám sát chiến trường, những nỗi khủng hoảng lo  sợ về tình hình chiến cuộc căng thẳng, những phẫn nộ về  các mưu mô chính trị, những cảm xúc trước tình cảnh bị  thương v.v…, tất cả đều là những sự kiện mà đối với  sự suy nghĩ thông thường của một đặc phái viên, có nằm  trong mơ tôi cũng không thể tưởng tượng được các diễn  biến đột ngột và khích động này.

Từng đợt sóng cuồng ào ạt dâng lên trong tình thế dầu  sôi lửa bỏng, có lúc tạm lắng yên và tưởng đâu nó sẽ  trở lại bình thường nhưng chỉ trong khoảng khắc cường  độ sôi động của chiến trường lại tăng lên gấp bội, đưa  đến những cục diện phũ phàng. Cuộc chiến tranh Việt Nam  là như vậy đó.

Đối với miền Nam, trong ngày Tết Nguyên Đán năm 1975 đã  xảy ra một điềm bất thường là việc thị trấn Phước Bình  của tỉnh Phước Long cách Sài Gòn khoảng 130km về hướng  Bắc đã bị quân Bắc Việt chiếm đoạt. Phước Bình vốn là  một thị trấn nhỏ nằm trong vùng núi non hiểm trở. Kể từ  khi hiệp định Ba Lê được ký kết, tại nơi đây không xảy  ra một cuộc giao tranh quân sự nào cả. Vì thế, đây là  một hành động vi phạm trắng trợn điều khoản cơ bản hiệp  định Ba Lê của phía Bắc Việt, nhưng họ vẫn tiếp tục mở  rộng địa bàn tấn công và sau đó đã làm chủ tình hình  toàn bộ tỉnh Phước Long. Trắng trợn hơn nữa là phía Bắc  Việt đã tuyên bố rằng vì quân đội miền Nam vi phạm hiệp  định Ba Lê nên họ phải tấn công bằng quân sự như vậy.  Nhưng về sự kiện này, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại  có hành động khó hiểu là không cho viện binh đến Phước  Long để tiếp cứu.

Xét về mặt chiến lược, Phước Long là một cứ địa nằm dọc  theo biên giới Campuchia, có dân số ít ỏi lại thiếu tài  nguyên, đồng thời nó cũng nằm sát ngay khu vực của  đường mòn HCM nên khá bất lợi trong việc đưa quân đến  đây để phản kích lại quân Bắc Việt. Nhưng điều quan  trọng hơn là có lẽ ông Thiệu đã muốn chứng minh cho Hoa  Kỳ thấy rằng Bắc Việt đang ngang nhiên vi phạm hiệp  định Ba Lê và uy hiếp miền Nam, như vậy, Hoa Kỳ sẽ  không thể ngưng viện trợ được. Đây chính là một sách  lược của ông Thiệu.

Tuy nhiên, phía Hoa Kỳ đã không có một phản ứng gì về  việc này, hay nói đúng hơn là ngoài việc lên tiếng chỉ  trích, phê phán Bắc Việt vi phạm hiệp định Hoa Kỳ đã  không có một hành động can thiệp nào và Quốc Hội Mỹ vẫn  tiếp tục chương trình cắt giảm ngân sách viện trợ cho  miền Nam. Bởi vì lúc đó, Tổng Thống Nixon, người từng  tuyên bố: “Hoa Kỳ sẽ không ngồi yên nhìn Bắc Việt vi  phạm hiệp định ngưng bắn”, đã phải từ chức sau vụ tai  tiếng “Watergate” và dư luận dân chúng Hoa Kỳ cũng đang  tạo áp lực mạnh mẽ lên Quốc Hội về việc yêu cầu chính  phủ chấm dứt những hành động can thiệp vào Việt Nam.

Đối với những nhân vật đầu não của Bắc Việt thì thái độ  của Hoa Kỳ lúc này chính là một yếu tố quyết định trong  kế hoạch tấn công quy mô cuối cùng để chiếm lấy miền  Nam và nó cũng mang ý nghĩa chiến lược có tầm vóc lịch  sử. Theo hồi ký của Văn Tiến Dũng, thời điểm này Bắc  Việt đã hoàn tất một kế hoạch tổng tấn công quy mô sau  khi phán đoán về phương tiện chiến đấu giảm sút của  quân đội Việt Nam Cộng Hòa vì bị Hoa Kỳ cắt giảm viện  trợ. Tuy vậy, phản ứng của Hoa Kỳ vẫn còn là chìa khoá  quyết định thành bại của kế hoạch tổng tấn công cho nên  theo nhận định này thì nếu Hoa Kỳ tiếp tục ứng viện cho  miền Nam bằng những cuộc oanh tạc miền Bắc thì quân  cộng sản Bắc Việt sẽ có khó cơ hội chiến thắng. Đây quả  là một chiến lược khôn khéo tránh đối đầu trực tiếp với  Hoa Kỳ của phía Bắc Việt và cũng vì vậy mà họ đã tung  quân đánh chiếm Phước Long để dò thử phản ứng của Hoa  Kỳ.

Thế nhưng, sau khi chiếm được Phước Long một cách dễ  dàng thì Bắc Việt đã đi đến quyết định là cho dù Hoa Kỳ  có phản ứng ra sao đi nữa thì họ vẫn không lùi bước.  Đây là lần đầu tiên trong lịch sử cuộc chiến, Bắc Việt  đã có một quyết định dứt khoát tấn công.

Trước đó, vào ngày 8/1/1975, bộ chính trị trung ương  đảng lao động Việt Nam, tức đảng cộng sản VN đã dự định  trong kế hoạch tấn công nói trên rằng: “Sẽ bắt đầu tổng  công kích miền Nam vào mùa Xuân năm 1975 và trong vòng  hai năm, tức đến giữa năm 1976 sẽ giải phóng hoàn toàn  miền Nam”. Tóm lại, cuộc tấn công Ban Mê Thuột vào  tháng 3/1975 đã chính thức mở màn cho chiến dịch tổng  tấn công này.

Để thực hiện cuộc tổng tấn công, Văn Tiến Dũng đã bí  mật rời khỏi Hà Nội vào tháng 2/1975 vào Nam bằng những  con đường mòn bí mật mới được thiết lập tại phía Đông  dãy Trường Sơn. Tại đây, Văn Tiến Dũng đã trực tiếp chỉ  huy những cuộc tấn công bất ngờ vào Ban Mê Thuột và lúc  đó ở chung quanh tỉnh Pleiku, một trong các cứ địa hiểm  yếu của miền Trung cũng đã bị bao vây chặt chẽ bởi đại  quân của Bắc Việt với mục địch ngụy trang cho một cuộc  tấn công chính thức vào đây hầu phân tán sự phòng thủ  của quân đội VNCH tại Ban Mê Thuột. Tuy nhiên, trên  thực tế đã có tới 3 sư đoàn quân Bắc Việt đã hiện diện  sẵn để chuẩn bị cho những cuộc tấn công bất ngờ vào Ban  Mê Thuột. Trong khi đó, thành phần chủ lực của VNCH là  sư đoàn 23 được điều động về Pleiku để tiếp ứng tạo  thành một lực lượng phòng thủ hùng hậu duy nhất tại  đây.

Điều này cho thấy sự thay đổi mục tiêu tấn công trong  lúc có đầy đủ binh lực với thế áp đảo đối phương của  Bắc Việt, lần đầu tiên đã trở thành một điều căn bản  trong chiến lược của họ. Cùng thời điểm này, tại quân  khu 2 bao gồm toàn thể miền Trung, quân VNCH đang hiện  diện với quân số tương đương với 2 sư đoàn nhưng Bắc  Việt cũng đã phối trí tại đây tới 5 sư đoàn. Với tương  quan lực lượng về quân số như vậy, dĩ nhiên là những  trận tập kích sau đó vào Pleiku của quân Bắc Việt được  coi như sẽ dễ dàng tạo áp lực nặng nề cho quân đội  VNCH. Hơn nữa, Pleiku lại là một cứ điểm quan trọng của  Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2 VNCH nên ai cũng nghĩ rằng quân  đội miền Nam sẽ tử thủ để bảo vệ cứ địa này.

Trong tình thế khẩn cấp như vậy, vào buổi sáng ngày  16/3/1975 khi tôi đang có mặt ở Sài Gòn thì phóng viên  kỳ cựu Nguyễn Gia Thôi của đài phát thanh chính phủ  miền Nam hớt hãi báo tin cho tôi biết rằng: “Ông ơi,  tại Pleiku hình như đã xảy ra chuyện gì rồi, vì đột  nhiên những tin tức truyền từ đó về đây đã hoàn toàn bị  cắt đứt. Nhưng quân cộng sản vẫn chưa tấn công vào  Pleiku kia mà? Thật là khó hiểu quá”. Đối với tôi thì  đây là một nguồn tin có tính cách liên quan đến biến  chuyển lịch sử bại trận hoàn toàn của quân đội miền  Nam.

Thì ra, ông Thiệu bỗng nhiên ra lệnh bỏ Pleiku và triệt  thoái cao nguyên, rút hết toàn bộ quân đội đang phòng  thủ ở miền Trung về Nam. Ông Thiệu đã nhận định là vì  Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ nên quân đội miền Nam đã không  đủ vũ khí đạn dược để chiến đấu cùng quân số hùng hậu  của quân BV. Sau khi rút quân từ miền Trung, quân đội  VNCH sẽ tập trung để tạo thành tuyến phòng thủ bao bọc  các nơi đông dân cư ở ven biển và thủ đô Sài Gòn trong  một chiến thuật tử thủ phần đất miền Nam còn lại.

Thế nhưng, chiến thuật này đã hoàn toàn thất bại vì đội  quân triệt thoái của miền Nam đã tựa như những mảnh  băng sơn tan rả và bị chôn vùi dưới cơn hồng thủy lánh  nạn của người dân miền Trung lúc đó thật ào ạt và mãnh  liệt.

Nói khác đi là quân đội VNCH đã mất đi thế lực chiến  đấu. Sự kiện này đối với Văn Tiến Dũng chẳng khác nào  một cơ hội bằng vàng vì “bất chiến tự nhiên thành” và  theo kế hoạch về một tình thế khống chế toàn bộ miền  Trung sẽ bắt đầu từ năm 1976 nay lại hoàn thành sớm hơn  dự định. Vì vậy, Văn Tiến Dũng đã ra lệnh cho toàn quân  Bắc Việt truy kích ráo riết các tuyến đường tháo lui  của quân đội miền Nam.

Vào lúc này, Hà Nội đã dốc hết toàn lực để sớm đánh  chiếm Sài Gòn bằng cách đưa thêm quân số của quân đoàn  2 cùng dân quân tự vệ vượt qua vĩ tuyến17 để đột nhập  Quảng Trị và Huế, đồng thời còn tận dụng cả lực lượng  dân quân trừ bị khiến cho số lượng nhân viên trong bộ  máy hành chính và sản xuất đã giảm xuống còn 1/3. Nói  chung là Hà Nội đã rót hết lực lượng chiến đấu vào miền  Nam với tổng cộng 20 sư đoàn dân quân lúc đó đang trên  đường Nam tiến.

Kết quả là phía miền Nam đã từ từ mất Huế, Đà Nẵng và  các khu vực chung quanh Sài Gòn cũng lần lượt bị rơi  vào vòng kiểm soát của quân Bắc Việt.

Trong quá trình này đã có tới mấy triệu người dân miền  Nam phải bỏ chạy lánh nạn cũng như có biết bao thảm  cảnh bi thương thống khổ đã xảy ra khắp nơi tại miền  Nam Việt Nam.

©Komori Yoshihisa  – Khôi Nguyên dịch
source: honvietradio.blogspot.com.au
Xem tiếp Kỳ 6

HOME | Trở về Mục Lục