Hồi 5 – 8

Hồi 5
Châu, Trịnh hai nước gởi con tin,
Lỗ, Tống một lòng đi chinh phạt

Nhắc lại con trai Thúc-đoạn là Công-tôn-hoạt đi viện binh nước Vệ về đến nữa đường, hay được tin cha mình bị giết, bèn trở lại nước Vệ khóc với Huệ-hoàn-công, tỏ bày việc Trịnh-trang-công giết em, đày mẹ.

Vệ-hoàn-công nghe nói cả giận, trách Trịnh-trang-công là vô-đạo bèn hưng binh đánh nước Trịnh .
Trịnh-trang-công hay được tin bèn hội quần thần mà thương nghị.
Công-tử Lữ tâu :
– Nhổ cỏ không tận rễ, thường bị nảy chồi. Công-tôn Hoạt đã trốn thoát lại còn đem binh nước Vệ về đánh ấy là vì Vệ-Hầu không rõ hành vi của Thúc-đoạn, nên mới giúp Công-tôn Hoạt đó. Xin Chúa-công viết thư gởi cho Vệ-hầu kể rõ cớ sự, ắt Vệ-hầu phải kéo binh về.
Trịnh trang-công khen phải, vội viết thư sai sứ đem qua nước Vệ .
Tiếp được thư, Vệ-hoàn-công mở ra xem .
Thư rằng :
Ngộ-sanh kính dâng Vệ-hiền hầu nhã giám.
Nhà tôi bất hạnh, anh em sát hại lẫn nhau, thật lấy làm xấu hổ với lân quốc. Nhưng xét kỷ, em tôi là đoạn đã lợi dụng lòng hiếu hữu của tôi mà sanh điều phản phúc. Tôi vì sự nghiệp tiền-nhân, buộc lòng phải chịu cảnh cốt nhục tương tàn . Mẹ tôi vì quá thương Ðoạn, nên phải tránh ra Dĩnh-ấp, nay tôi đã cho người rước về phụng-dưỡng , lẽ ra Công-tôn Hoạt phải biết tội cha, đem mình sửa lỗi , lại chạy sang quý quốc viện binh mà phản-loạn . Hiền-hầu không tỏ nên giúp kẻ tôi loàn. Xét mình chẳng có tội chi, xin Hiền-hầu chớ nghe lời Công-tôn Hoạt khiến hai nước bất hòa, sanh việc binh đao , thì thật tôi lấy làm may-mắn !
Vệ-hoàn-công xem thư xong, giật mình nói :
– Thúc-đoạn bất nghĩa, gây nên tai họa. Nay ta lại nghe lời giúp Công-tôn Hoạt hóa ra ta giúp kẻ nghịch sao !
Nói rồi lập tức sai người đi rút quân về.
Nhưng lúc đó Công-tôn Hoạt đã đánh chiếm được đất Lâm-giêng.
Trịnh trang-công nổi giận khiên Cao-Cừ-Di đem ba vạn binh rồng đến đánh.
Công-tôn Hoạt cô thế lại phải chạy trở lại nước Vệ .
Công-tử Lữ thừa thắng đuổi theo đến tận biên-giới nước Vệ.
Vệ-hoàn-công thấy thế đem lòng lo lắng, bèn họp quần thần lại thương nghị.
Công-tử Chu-hu bàn rằng :
– Nước tràn thì lấy đất ngăn, giặc đến thì lầy quân chống , xưa nay đã vậy, lựa phải bàn bạc làm chi ?
Quan Ðại-phu Thạch-thác tâu :
– Tâu Chúa-công. sỡ-dĩ quân Trịnh đến đây là vì ta giúp cho Công-tôn Hoạt đánh Trịnh. Nay Chúa-công không có ý giúp Công-tôn Hoạt nữa thì chỉ cần biên thư phúc đáp mà xin lỗi, quân Trịnh ắt rút về .
Vệ hoàn-công khen phải, khiến Thạch-thác viết thư gởi cho Trịnh trang-công.
Thư rằng :
Hoàn-công nước Vệ, xin phúc đáp Trịnh Hiền-hầu nhã giám.
Tôi quá nghe lời Công-tôn Hoạt, ngỡ Hiền-hầu vô đạo, giết em, giam mẹ nên mới cất quân giúp Hoạt.
Nay được rõ tội ác của Thúc-đoạn lòng hối-hận vô cùng, tôi đã rút quân về nước. Nếu Hiền-hầu rộng xét, tôi xin bắt Công-tôn-Hoạt đưa về Trịnh để hai nước được giao hảo như xưa.
Thư xong, sai người đem đến dâng cho Trịnh trang-công. .
Trịnh trang-công đọc thơ mừng rỡ, nói :
– Vệ-hầu đã biết lỗi ta chớ nên sanh-sự nữa.
Bèn sai người ra biên-ải, bảo Công-tử Lữ rút binh về.
Khương-thị nghe tin, sợ Trịnh trang-công giết Công-tôn-Hoạt, bèn đến năn-nỉ với Trịnh trang-công tha-tội cho Hoạt.
Trang-công nễ lời mẹ, và thấy Hoạt bị cô thế, không làm gì nổi nữa, nên viết thư cho phép Công-tôn-Hoạt ở ngay bên nước Vệ để coi việc phụng thờ Ðoạn .
Từ ấy Công-tôn-Hoạt ở bên nước Vệ cho đến trọn đời.
Nói về Châu-bình-vương đã lâu không thấy Trịnh trang-công về triều, nhân lúc Quách-Công là Kỵ-phù đến chầu, lại nói năng lưu-loát lấy làm vừa ý phán rằng :
– Bấy lâu cha con Trịnh-bá bỉnh-chánh, nay chẳng biết ý gì không thấy về triều. Vậy trẫm có ý muốn trao chức Khanh-sĩ cho khanh để lo việc nước, ý khanh thế nào ?
Quách-Công quỳ tâu :
– Trịnh trang-công không đến, ắt trong nước có việc. Nếu Bệ-hạ dạy hạ-thần quyền thế, Trịnh trang-công không những oán Bệ-hạ mà còn oán hạ-thần nữa. Hạ thần chẳng dám vưng mạng.
Châu bình-vương ép uổng , nhưng Quách-công nhứt thiết chối từ và xin về nước.
Trịnh trang-công tuy không qua triều Châu, song vẫn có người ở kinh-sư dò la tin tức. Mỗi việc gì xảy ra , Trịnh trang-công đều hay biết .
Bởi vậy, khi nghe được tin, Trịnh-trang-công lập tức sửa sang xe giá đến Lạc-dương ra mắt Bình-vương, và tâu rằng :
– Hạ thần đội ơn Bệ-hạ, cha truyền con nối, giữ chức Khanh-sĩ lo việc quốc-chánh, nay hạ thần xét mình bắt tài, muốn từ chức lui về Trịnh, giữ phận chư-hầu.
Bình-vương nói :
– Ðã lâu khanh không vào triều, lòng trẫm trông mong. Nay được gặp khanh chẳng khác cá gặp nước, sao khanh lại nói thế ?
Trịnh trang-công tâu :
– Vì trong nước không may gặp biến, nên bỏ việc đã lâu. Hạ-thần lại được nghe Bệ-hạ có ý phú việc quốc chánh cho Quách-công . Hạ-thần trộm nghĩ tài đức hạ-thần không sánh Quách-công, nếu giữ lấy chức vị, e mang tội với Bệ-hạ.
Bình-vương nghe Trịnh trang-công, lòng hổ thẹn, vội nói :
– Trẫm nghe nước Trịnh sanh biến, nên nhờ Quách-công bỉnh-chánh vài hôm để chờ khanh đến. Nhưng Quách-công từ chối mãi, vả trẫm cũng đã cho về nước. Khanh chờ nghi ngờ.
Trịnh trang-công tâu :
– Tâu Bệ-hạ, việc nước là của nhà vua không phải việc riêng của kẻ hạ-thần thì quyền xử-dụng cũng do nhà vua định đoạt. Nay Quách-công có đủ tài năng giúp nước, xin Bệ-hạ cứ dùng. Hạ thần sẽ từ chức để khỏi mang tiếng tham quyền cố vị.
Bình-vương thấy Trịnh trang-công nghi kỵ , lòng buồn bã nói :
– Trẫm trao việc nước cho cha con khanh chắp-chưởng đã bốn mươi năm, lẽ ra tình vua tôi không đến nỗi vì chuyện nhỏ mọn đó mà tổn thương. Khanh cứ nghi nan, trẫm biết làm sao giải nỗi lòng của trẫm.
Trịnh trang-công lòng chưa hả giận, tâu :
– Tâu Bệ-hạ, nhậm chức hay từ chức đó là bổn phận của hạ-thần. Hạ-thần tự xét mình trước nhiệm vụ chứ đâu dám khinh mạng .
Bình-vương nói :
– Muốn cho khanh được thấy lòng quý mến của trẫm, trẫm sẽ cho Thái-tử Hổ sang ở bên nước Trịnh làm con tin.
Trịnh trang-công nghe nói, vập đầu tâu :
– Tâu Bệ hạ, xin Bệ-hạ đừng dạy như thế mà hạ thần phải mang tiếng hiếp vua.
Bình-vương nói :
– Không phải thế ! Vì khanh có tài chính-trị, trẫm muốn cho Thái-tử sang đó du học để hấp-thụ những phong-hóa tốt lành của nước Trịnh. Nếu khanh từ chối thì quả lòng khanh đã hờn trẫm đó.
Trịnh trang-công nhất định chối từ, quần thần thấy thế quỳ tâu :
– Tâu Bệ-hạ, nếu Bệ-hạ không để con tin thì chẳng lấy gì để giải mối nghi ngờ của Trịnh Bá, còn Trinh-bá nhận con tin thì trái đạo vua tôi. Chi bằng hai bên cùng giao con với nhau thì tránh được nghi ngờ, mà tiếng tăm cũng trọn vẹn.
Bình-vương khen phải .
Trịnh trang-công mới sai Thế-tử Hốt đến ở làm con tin nhà Châu, còn Thái-tử Hổ nhà Châu thì lại sang nước Trịnh.
Ðược ít lâu Bình-vương băng hà.
Trịnh trang-công và Châu-công Hắc-kiên cùng coi việc nước, bèn cho Thế-tử Hốt về Trịnh, và rước Thái-tử Hổ về Châu kế vị.
Thái-tử Hổ nghe vua cha mất, trong lòng phiền nảo, tự nghĩ mình không được ở nhà hầu hạ thuốc men trong lúc lâm chung nên về đền triều phát bịnh nặng rồi tạ thế.
Con Thái-tử Hổ là Lâm lên nối ngôi tức là Châu hoàn-vương .
Các nước chư-hầu hay tin đều tựu đến chịu tang và làm lễ chúc mừng tân vương .
Quách-công Kỵ-Phủ đến trước, lo việc lễ bộ, đâu đó rất đàng hoàng khiến cho mọi người phải khâm phục.
Hoàn-vương lên ngôi, nghĩ đến việc cha mình làm con tin buồn bã mà chết, lại thấy Trịnh trang-công gánh vác việc nước, trong lòng nghi hoặc, mới kêu Châu-công Hắc-kiên đến hỏi rằng :
– Trịnh trang-công bắt nhà Châu gởi con tin thật có ý khinh vua , lòng trẫm áy náy không yên , nếu để va bỉnh-chánh lâu ngày ắt sanh họa . Nay trẫm có ý giao quyền lại cho Quách-Công Kỵ-Phủ là người rất lễ độ ý khanh thế nào.
Châu-công Hắc-kiên tâu :
– Trịnh trang-công là người hà-khắc, ít ra ơn, chẳng phải tôi trung, lẻ ra không nên dụng. Ngặt vì nhà Châu từ lúc dời đô qua Lạc-ấp công lao nước Tần và nước Trịnh rất lớn, nay tước bỏ quyền của Trịnh, tôi e Trịnh-bá đem lòng giận ắt sanh điều rối nước, xin Bệ-hạ nên xét kỹ đã.
Hoàn-vương nói :
– Ý trẫm đã tuyệt không thể ngồi ngó Trịnh-bá chuyên chế được.
Hôm sau, Hoàn-vương lâm triều, kêu Trịnh trang-công nói :
– Khanh là cựu thần của Tiên-vương, trẫm không dám ép buộc theo quần-liêu mà làm nhọc lòng khanh. Vậy khanh chớ cho trẫm bất nghĩa.
Trịnh trang-công vừa cười, vừa tâu :
– Nghĩa là Bệ-Hạ bảo tôi trả chức mà về nước ?
Ðoạn bước ra ngoài, nét mặt hằm hằm nói với mọi người :
– Vua trẻ con nầy bội-bạc lắm, không thể giúp đặng !
Nói xong, lên xe trở về nước Trịnh.
Thế-tử Hốt đem các quan ra tận biên thùy tiếp đón.
Trịnh trang-công kể công việc vua Hoàn-vương bạc đãi.
Các quan ai nay đều bất bình.
Quan Ðại-phu Cao-cừ-di nói :
– Chúa ta giúp nhà Châu đến nay đã hai đời , công trạng rất lớn. Vả lại Thái-Tử Hổ ở nước ta chưa có gì thất lễ, nay lại bỏ Chúa-công dùng Quách-công kỵ-phủ, thật là bất nghĩa. Xin Chúa-công ra binh đánh nhà Châu, phế Hoàn-vương mà lập vua khác, như thế các chư-hầu mới kính nễ nước Trịnh.
Dĩnh Khảo-thúc nói :
– Không nên thế ! Ðạo vua tôi như tình mẹ con. Chúa-công đã không thù mẹ sao lại thù Chúa được ! Chúa.công nên kiên-nhẫn ít lâu đợi cho Hoàn-vương hối hận mà trọng dụng, nếu nóng nẩy e làm mất khí tiết mấy đời của nhà Trịnh.
Tế-Túc tâu :
– Theo tôi tưởng cả hai người đều có lý. Vậy tôi có một ý dung-hòa hơn, là cần dò xét thái-độ Hoàn-vương trước đã. Nay đem một đạo binh sang đất nhà Châu lấy cớ mất mùa , mượn lúa ở Lạc-ấp và ôn-ấp, nếu nhà Châu trách phạt, ta sẽ sanh sự, bằng không Chúa công sẽ vào chầu để can gián Hoàn-vương.
Trịnh-trang-công cho là phải, bèn sai Tề-túc cắt quân kéo đến ôn-ấp.
Quan giữ ôn-ấp là Ôn Ðại-phu, thấy thế la hoảng :
– Sao ngài lại làm ngang như thế . Chưa có lệnh Hoàn-vương tôi không thể nào cho mượn lúa được.
Tề-Túc nói :
– Hiện nay ở đây lúa mạch đang chín, còn nước ta thiếu lúa ăn, nếu không cho mượn ta cứ tự tiện gặt lấy.
Nói xong khiến quân đem liềm hái xuống ruộng mà gặt.
Ôn Ðại-phu thấy quân Trịnh mạnh quá không dám ngăn cản, vội chạy về Lạc-dương cấp báo.
Hoàn-vương nổi giận định hưng binh đánh Trịnh, nhưng Châu-công Hắc-kiên can rằng :
– Tề-Túc gặt lúa trộm ấy chỉ là việc nhỏ ngoài biên đình. Bệ-hạ không nên vì việc nhỏ mà bỏ việc lớn , xin cứ lấy đại-lượng đối xử Trịnh trang-công sẽ ăn-năn mà hối cải.
Hoàn-công nhận lời, truyền canh giữ bờ cõi nghiêm nhặt còn việc gặt lúa thì bỏ qua không nói đến.
Tề-Túc đóng quân trên đất Châu ba tháng, không thấy gì, bèn trở về phục chỉ .
Trịnh trang-công thấy thế có ý ăn-năn, hối hận, bèn tính việc qui triều Châu bệ kiến Hoàn-vương.
Trịnh trang-công sắp lên đường thì bỗng có Tề hi-công sai sứ qua mời sang Thạch-môn phó hội.
Trịnh trang-công đã có ý muốn giao-ước với Tề-hầu , nay sẵn dịp bèn lên đường phó hội .
Khi gặp Tề hi-Công, Trịnh-trang-công cùng kết làm anh em sanh-tử, uống máu ăn thề, hẹn giúp đỡ lẫn nhau trong cơn hoạn nạn.
Tề hi-công, sau khi hỏi thăm, biết Thế-tử Hốt chưa định gia thất bèn tỏ ý rằng :
– Tôi có một đứa con gái, tuổi vừa cập kê, tài mạo gồm đũ , như hiền-hầu bằng lòng tôi sẽ gã cho Thế-tử Hốt.
Trịnh trang-công nghe nói rất đẹp dạ. Hai bên giả biệt ra về.
Về đến Kinh-đô, Trịnh trang-công thuật chuyện ấy lại với Thế-tử Hốt .
Thế-tử Hốt thưa :
– Việc phối- ngẫu cốt phải cân xứng , nay nước ta nhỏ, nước Tề lớn kết hôn với nhau đâu phải cách. Ý con tưởng không nên với cao làm gì .
Trịnh trang-công nói :
– Ðó là ý kiến của Tề hi-công ước muốn chớ đâu phải ý củ cha . Vả lại, kết nghỉa với Tề, ngày sau có thể tượng-trợ được, sao con lại từ chối ?
Thế-tử Hốt thưa :
– Thân trai bổn phận phải tự lập, lẽ đâu trông mong vào sự bảo trợ của kẻ khác .
Trịnh trang-công nghe nói, khen con có chí khí và không ép nữa.
Sau đó, sứ Tề qua Trịnh biết được chuyện Thế-tử Hốt từ chối việc hôn nhơn, trở về thuật lại với Tề hi-công .
Tề-hi-công khen thầm :
– Nếu vậy thì Trịnh Thế-tử quả lâ một kẻ can-cường , lại đầy lòng khiêm nhượng. Nhưng thôi ! con gái ta nhỏ, việc đó chưa muộn gì.
Một hôm, Trịnh trang-công đang thương nghị với quần thần về việc đi chầu Châu-vương, xảy có tin báo rằng Công-tử nước Vệ là Chu-hu đã giết vua Vệ hoàn-công mà soán vị.
Trịnh trang-công thất kinh, vỗ tay xuống bàn than :
– Thôi rồi ! Chẳng bao lâu nữa nước Trịnh ta xảy ra binh-biến .
Các quan không hiểu, ngơ ngác hỏi :
– Do đâu mà Chúa-công lại tiên-liệu như thế ?
Trịnh trang-công nói :
– Chu-hu là một đứa hung hăng. Nay soán ngôi nước Vệ tất thị oai với các nước lân-bang. Nước ta trước kia có hiềm khích, chắc là bị va dấy binh đánh trước . Vậy phải đề-phòng mới được.
Chu-hu nầy nguyên là con thứ ba của Vệ trang-công.
Vệ-trang-công trước kia lấy bà Trang-khương nước Tết rất đẹp mà không con, sau lại lấy nàng Lệ-Vĩ nước Trần làm thứ, Lệ-Vĩ cũng không con , nên Vệ trang-công lại, lấy em gái của Lệ-Vĩ là Ðài-Vĩ .
Nàng này sanh đặng hai trai là Hoàn và Tân.
Bà Trang-khương rất tốt tính, không hề biết ghen tương, đem Hoàn về nuôi làm con , rồi lại dâng cho Vệ trang-công một cung nữ.
Người cung-nữ nầy sanh được một trai, tức là Chu-hu.
Chu-hu tánh hung-bạo, nhưng Vệ trang-công lại rất yêu quý .
Do đó, Chu-hu mỗi ngày một lộng hành, bất chấp lời giáo huấn.
Thạch-thác thấy thế đã nhiều lần khuyên Vệ trang-công :
– Chúa công cần phải trấn áp công tử, kẻo sau nầy khó tránh tai vạ !
Còn Thạch-thác lại cũng có một đứa con trai là Thạch-hậu thường giao du với Chu-hu, rủ nhau săn bắn, luyện tập võ-nghệ.
làm lắm điều nhiễu hại dân chúng.
Thạch-thác cả giận đánh đập nhiều lần, nên Thạch-hậu bỏ nhà vào thành ở luôn với Chu-hu .
Thạch-thác cũng đành bó tay trước đứa con ngỗ-nghịch đó .
Sau Vệ trang-công mất, Hoàn lên ngôi kế vị tức là Vệ hoàn-Công.
Vệ hoàn-công vốn nhu nhược, không làm được việc lớn.
Thạch-thác thấy thế cáo-quan không tham dự triều chính nữa.
Lúc bấy giờ Chu-hu không còn kiêng nễ ai nữa, mưu tính với Thạch-hậu, toan việc cướp ngôi.
Rồi gặp lúc vua Bình-vương nhà Châu mất, Vệ hoàn-công sắp sửa đi điếu tang, Chu-hu được dịp bàn với Thạch-hậu.
Thạch-hậu nói :
– Ðó là dịp tốt. Ngày mai Công-tử bày tiệc tiễn hành đưa Chúa-công. Tôi sẽ cho quân sĩ phục ở phòng tiệc . Lúc đang ăn uống Chu Công-tử rút gươm ra mà hạ sát Chúa-công đi thì lo gì không đoạt được ngôi báu .
Chu-hu cả mừng, làm y kế.
Sáng hôm sau Chu-hu bày tiệc ở Cung-quán rồi mời Vệ hoàn-công đến dự.
Chu-hu nâng ly rượu nói :
– Nay huynh-hầu đi xa, em xin có ly rượu tiễn hành.
Vệ hoàn-công nói :
– Hiền đệ quá nhọc lòng ! Chẳng qua ta đi vắng một tháng rồi lại trở về. Chỉ mong hiền-đệ trông coi việc quốc-chính cho cẩn-
thận là tốt rồi !
Nói xong, Vệ hoàn-công rót một chén rượn trao cho Chu-hu để giã biệt.
Hai người nâng ly vui vẻ. Ðược một lúc Chu-hu giả say làm rơi ly rượu xuống đất, rồi cúi xuồng lượm ly đi rửa.
Vệ hoàn-công không ngờ nên bị Chu-hu lén ra phía sau lưng rút gươm đâm một nhát bỏ mạng.
Lúc đó, Thạch-hậu dẫn năm trăm quân giáp vây chặt Cung-quán, nên không ai đám trái lệnh.
Giết vệ hoàn-công xong, Chu-hu lên tức vị , và phong cho Thạch-hậu làm Thượng đại-phu.
Còn em ruột của Vệ hoàn-công là Tân bỏ trốn qua nước Hình lánh nạn.
Vừa lên ngôi được ba ngày, Chu-hu nghe dân-chúng bàn tán về việc mình giựt anh, soán ngôi, lòng bực tức, kêu Thạch Hậu vào hỏi ý-kiến :
– Nay ta mới tức vị, oai-quyền trong thiên hạ chưa được bao nhiêu, muốn cho các nước nể vì, tất phải hưng binh chinh phạt.
Vậy theo ý người nên đánh nước nào trước ?
Thạch-hậu tâu :
– Các lân-quốc đều chẳng có thù hiềm chi, duy chi có nước Trịnh trước kia có thù hiềm với ta việc Công-tôn-hoạt . Tiên-công đã nhượng bộ cầu hòa trong lúc quân Trịnh kéo tới bờ cõi, thật là điều quốc nhục. Nay Chúa-công muốn dựng binh, xin hãy đánh Trịnh trước .
Chu-hu nói :
– Nước Trịnh vừa lập minh-thệ với nước Tề tại Thạch-môn , nếu nay đánh Trịnh ắt Tề đem binh giúp, nước ta cự sao nổi ?
Thạch-hậu tâu .
– Nếu muốn đánh Trịnh, Chứa-công phải sai sứ sang nước Tống, nước Lỗ để cầu họ ra binh giúp sức. Rồi mượn thêm binh
nước Trần, nước Sái hiệp lại mà đánh thì lo gì chẳng thắng.
Chu-hu nói :
– Trần và Sái là hai nước nhỏ , xưa nay vẫn tùng-phục nhà Châu, nay nhà Châu nghịch với Trịnh, thì ta có thể mượn binh hai
nước ấy đánh Trịnh được. Duy chỉ có Lỗ và Tống là hai nước lớn rất khó nài họ giúp mình.
Thạch-hậu tâu :
– Chúa-công chưa rõ, nước Tống xưa Tống mục-công nối ngôi anh là Tuyên-công. Sau Tống mục-Công gần thác, muốn báo
ơn anh, nên bỏ con ruột là Bằng, truyền ngôi cho con người anh là Dư-di. Bằng oán cha và rất ghét Dư-Di nên bỏ sang nước Trịnh cư ngụ. Nước Trịnh đã chứa Bằng lại có ý giúp Bằng đánh Tống, cướp ngôi của Dư-di. Nay nhân việc nầy mà rủ Dư-di hiệp binh đánh Trịnh, ắt Dư-di không từ chối. Còn nước Lỗ thì Công-tử Vận chưởng-quản cả binh-quyền, xem Lỗ-Hầu chẳng ra chi. Nếu đem nhiều tiền của hối-lộ cho Công-tử Vận ắt nước Lỗ hưng-binh ngay .
Chu-hu nghe nói lòng phấn khởi, lập tức sai sứ sang Lỗ, Trần Sái .
Còn nước Tống vì phải có một sứ-giả ăn nói bặt-thiệp mới xong nên chưa chọn được người .
Thạch-hậu tâu :
– Nay có Ninh-dực, người đất Trung-mâu , vốn là một kẻ miệng lưỡi. Xin Chúa-công sai người ấy đi ắt thành-sự.
Chu-hu y lời, liền sai Ninh-dực sang mượn binh nước Tống
Ninh-dực bái mạng, lập tức lên ngựa ra đi.
Ðến nơi vào yết kiến.
Tống tương-công hỏi :
– Tại sao lại cử binh đánh Trịnh ?
Ninh-dực tâu : .
– Trịnh trang-công vô đạo, giết em, đày mẹ, khiến cho Công-tôn-hoạt trốn sang nước tôi tỵ-nạn. Trịnh trang-công lại mượn cớ ấy xâm lấn bờ cõi, Tiên-vương tôi vì nhu-nhược mà cầu hòa. Nay Chúa-công tôi quyết hưng binh rửa nhục. Vì nghĩ đến chỗ chúng ta đều có thù chung với nước Trịnh nên Chúa-công tôi khiến tôi sang đây mà cầu viện.
Tống tương-công nói :
– Ta cùng nước Trịnh xưa nay chẳng có thù hiềm chi , sao ngươi lại nghĩ như thế ?
Ninh-dực ôn-tồn nói :
– Có lẽ Chúa-công đã không nhớ ngôi vua nầy ai truyền lại cho Chúa-công chăng ?
Tồng tương-công mỉm cười nói :
– Của Vương-thúc ta là Tống mục-công truyền lại.
Ninh-dực nói :
– Từ xưa nay, hễ cha thác thì truyền ngôi lại cho con là lẽ thường . Tống mục-công tuy có lòng tốt, truyền ngôi lại cho Chúa-công, song công-tử Bằng hiện nương ngụ nơi đất Trịnh, lăm le mượn binh nước Trịnh về phục nghiệp . Như thế Chúa-công
làm sao yên được. Nay đánh Trịnh là một cơ-hội tốt để cho Chúa-Công trừ mối hại cho nước Tống sau nầy.
Tống tương-công lâu nay đã có ý nghi kỵ Công-tử Bằng , nay Ninh-dực nói đúng ý, liền nhận lời giúp Vệ đánh Trịnh.
Lúc ấy có quan Ðại tư-mã, vốn giòng dõi vua Thang, tên Không-phu-gia thấy Tống tương-công nhận lời giúp Vệ, bèn can rằng :
– Xin Chúa-công chớ nghe lời ngụy-biện của sứ nước Vệ. Nếu bắt tội Trịnh trang-công giết em, bỏ tù mẹ thì Chu-hu giết
anh đoạt ngôi lại không phải tội sao ? Quên tội mình, kết tội kẻ khác, ấy không phải là lời chân chính .
Tuy-nhiên, Tống tương-công vì đã hứa lỡ với Ninh-Dực, nên chẳng nghe lời can gián, nội ngày ấy hưng binh.
Còn nước Lỗ, Công-tử Vận đã ăn hối lộ của nước Vệ rồi, nên cũng rầm-rộ kéo binh sang. Trần và Sái cũng đều tề-tựu đũ mặt.
Năm nước họp lại cử nước Tống làm Minh-chủ, Thạch-hậu làm Tiên-phuông, Chu-hu đi hậu đạo, chở theo rất nhiều lương thực , lũ lượt kéo qua cửa Ðông-thành của nước Trịnh.
Trịnh trang-công hay tin, liền họp các quan đại thần lại bàn bạc.
Trong triều người chủ chiến, kẻ chủ hòa, ý-kiến rộn ràng chưa quyết .
Trịnh trang-công mỉm cười nói :
– Các quan chưa bàn được gì hay. Nhưng cứ theo thiển-kiến của ta thì Chu-hu vừa mới nổi loạn đoạt ngôi anh, dân tình trong nước không phục, nay va mượn oán cũ, cử binh sang đánh nước ta, chỉ cốt để cho dân nước Vệ sợ đó thôi. Công-tử Vận thì vì ham tiền hối-lộ mà cử binh sang đánh chứ không phải ý muốn của Lỗ ân-Công. Trần và Sái thì không có oán cừu gì với nước Trịnh , thế thì bốn nước đó không đáng sợ. Duy chỉ có Tống, ghét Công-tử Bằng trốn tránh trên đất Trịrih, nên thực lòng quyết đánh . Nay ta đưa Công-tử Bằng ra trú nơi đất Trường-các, binh Tống hay tin ắt kéo quân ra đó . Trong lúc ấy, ta khiến Công-tử Lữ dẫn quân ra cửa Ðông đánh với Chu-hu, rồi giả thua mà chạy. Chu-hu vốn làm oai, đã đánh thắng tất nhiên kéo quân về chứ không dám ở lâu trên đất Trịnh, sợ trong nước có loạn. Bởi vì hiện nay nước Vệ còn có Thạch-thác là một tôi trung của Vệ hoàn-công, làm sao chịu khoanh tay ngồi ngó Chu-hu phản-phúc được ! Tình trạng Chu-Hu hiện nay lo phận mình chưa đũ , có đâu lại làm hại ta được sao ?
Các quan cận-thần nghe nói đều cho là phải.
Trịnh trang-công liền khiến quan Ðại-phu Hà thúc-dĩnh đem một đạo quân đưa Công-tử Bằng qua Trường-các , rồi lại sai người đến nói với Tống tương-công rằng :
– Công-tử Bằng trốn sang nước tôi, tôi không nỡ giết, nên bắt đày ra Trường-các , vậy xin Chúa-công định-đoạt.
Tống tương-công hay được tin lập tức kéo đại binh ra vây nơi Trường-các.
Ba nước Trần, Sái và Lỗ thấy binh Tống đi rồi, có ý chán nản muốn rút binh về, nên lúc nghe Công-tử Lữ đem quân đánh Vệ ở cửa Ðông cũng không buồn tiếp ứng.

Hồi 6
Vì nghĩa, Thạch-Thác giết con,
Mượn lịnh, Trang-công đánh Tống

Thạch-hậu ra lịnh đánh với Công-tử Lữ chưa đặng vài hiệp, Công-tử Lữ đã bỏ chạy.
Thạch-hậu thừa thế rượt theo đến cửa phía Tây, thì Công-tử Lữ đã kéo binh vào thành đóng chặt cửa lại, không ra đánh nữa.
Thấy vậy, Thạch-hậu cho quân sĩ gặt hết lúa mạch ở ngoài thành, rồi ra lịnh ban sư.
Chư tướng không rõ ý gì, kéo đến hỏi Chu-hu :
– Binh ta thắng trận, lẽ ra phải thừa thế mà tấn công, sao lại lui binh ?
Chu-Hu nghe nói, đem lòng nghi ngờ, đòi Thạch-Hậu đến chất vấn.
Thạch-hậu đuổi hết kẻ tả hữu ra ngoài, rồi nói với Chu-hu :
– Binh Trịnh vốn đã mạnh, mà Trịnh trang-công lại là Khanh-sĩ bên triều Châu. Quân ta đánh thắng một trận, danh vang trong thiên-hạ, ấy là đã đạt được mục-đích rồi. Nay Chúa-công mới lên ngôi, việc nước chưa định, nếu ở ngoài lâu ngày e trong nước có biến.
Chu-hu nghe nói, như sực tĩnh ,vội vã đáp :
– Lời ngươi luận rất phải lẽ. Nếu không có ngươi thực ta chưa nghĩ đến.
Kế đó ba nước Trần, Sái, Lỗ đều đến chúc mừng Chu-hu thắng trận .
Chu-hu xin các nước ban-sư, ai rút quân về nước nay. Kể từ ngày hưng binh đến ngày lui bình chỉ có năm ngày.
Thạch-hậu đắc thắng lòng hiu hiu tự đắc trương cờ, gióng trống, rầm rộ trở về.
Chu-hu hỏi :
– Người trong nước chưa chịu phục thì phải làm thế nào ?
Thạch-hậu nói :
– Muốn cho dân phục thì bắt những kẻ được dân tin tưởng phục mình. Cha tôi trước kia làm Thượng-khanh, ai cũng mến đức
, nay xin Chúa-công triệu cha tôi vào dự việc quốc chính, thì ngôi báu ắt vững.
Cbu-hu nghe theo lời, khiến người đem một cặp bạch-bích, và năm trăm hộc gạo trắng đến cầu Thạch-thác vào chầu nghị việc.
Thạch-thác giả đau, từ chối không nhận.
Chu-hu hỏi Thạch-hậu :
– Cha của khanh không chịu vào chầu, ý ta muốn đến đó để hỏi kế, có nên chăng ?
Thạch-hậu tâu :
– Chúa-công đến đó vị tất đã được gặp mặt. Ðể tôi lấy lệnh vua mà triệu người đến thì hơn.
Nói rồi trở về nhà, vào tỏ với Thạch-thác nỗi lòng kính mến của Chu-hu.
Thạch-thác hỏi :
– Tân-quân muốn triệu cha vào triều làm chi ?
Thạch-hậu thưa :
– Vì lòng dân trong nước chưa phục Tân-quân sợ ngôi báu không vững nên muốn nhờ phụ-thân chỉ-giáo.
Thạch-thác nói :
– Mỗi chư-hầu lên ngôi phải có mạng vua mới chánh đáng. Nay nếu Tân-quân muốn được mọi người tùng-phục thì phải vào chầu vua nhà Châu. Khi vua nhà Châu chấp thuận, ban áo mũ , thì người trong nước sẽ vâng mạng.
Thạch Hậu nói :
Lời phụ-thân dạy rất phải. Song vô cớ vào chầu nhà Châu e bị nghi ngờ. Vậy phải có người đến đó tâu trình trước thì mới xong.
Thạch-thác nói :
– Việc đó không khó khăn gì. Trần-hầu là một người được Châu-vương yêu chuộng lâu nay chưa hề bỏ phế một lễ triều-sinh nào . Hơn nữa, vừa rồi, Trần lại đem binh giúp Vệ đánh Trịnh, thì tình giao hảo giữa Vệ và Trần đang mật-thiết. Tân-quân cứ sang nước Trần, nhờ Trần-hầu vào tâu trước với nhà Châu, rồi Tân-quân sẽ triều kiến sau thì việc ắt thành.
Thạch-hậu trở về nói lại với Chu-hu.
Chu-hu mừng lắm, vội vả sắm sửa lễ-vật và hành-trang rồi cùng với Thạch-hậu lên đường sang nước Trần.
Thạch-thác với quan Ðại-phu nước Trần là Tử-Hàm vốn là bạn thân . Bèn lấy máu viết một bức huyết-thư , sai người tâm-phúc đến đưa cho Tử-hàm, nhờ trình lên Trần hoàn-công.
Ðược thư, Trần hoàn-công vội mở ra xem.
Thư rằng :
Tôi là Thạch-thác cúi dâng thư nầy đến Trần-hầu ngự lãm :
Nước Vệ chúng tôi nhỏ nhen nhưng hiện lâm vào tai biến ấy, cũng bởi Chu-hu gian-nịnh, giết anh soán nghiệp. Nhưng, tội ấy một phần lớn cũng tại đứa con tôi là Thạch-hậu xui nên. Ngày nào hai kẻ loạn tặc ấy chưa chết , thì dân nước Vệ tôi còn chịu canh thê-lương.
Tôi, tuổi già, sức yếu không đủ tài trừng trị bọn chúng , thực đắc tội với Tiên-công. Nay hai đứa loạn tặc ấy sắp sang quí quốc để cầu-cạnh. Vậy xin Chúa-công bắt chúng mà trị tội. Ðược như vậy, không những may mắn cho nước Vệ tôi, mà còn làm gương cho các nước khác.
Xem thư xong, Trần hoàn-công hỏi Tử-hàm :
– Việc nầy khanh liệu làm sao ?
Tử-Hàm tâu :
– Kẻ phản-loạn của nước Vệ chẳng khác nào như kẻ phản-loạn của nước Trần, không thể dung tha được.
Trần hoàn-công cho là phải, bèn định kế bắt Chu-hu.
Còn Chu-hu và Thạch-hậu đâu rõ việc ấy. Khi đến nước Trần , hai người đi thẳng vào thành. .
Trần hoàn-công sai Công-tử Ðà ra đón rước, cầm lại nơi quán địch nghĩ ngơi, hẹn đến ngày mai sẽ tiếp kiến nơi nhà thái-miếu.
Thấy Trần hoàn-công có ý ưu-đãi, Chu-hu rất vui mừng.
Sáng hôm sau Trần hoàn-công vào nhà Thái-miếu, bày nghi lễ rồi sai Tử-Hàm ra rước Chu-hu vào.
Thạch-hậu đi trước, thấy đàng trước có đựng một tấm bảng lớn, đề chữ rằng : Con bất hiếu , tôi bất trung, không được vào Thái-miếu .
Thạch-hậu trông thấy kinh ngạc, hỏi Tử-Hàm :
– Cái bảng nầy có ý nghĩa gì vậy ?
Tử-Hàm nhìn Thạch-hậu, rồi mỉm cười đáp :
– Ðó là lời của Tiên-vương tôi dạy, và Chúa-công tôi ghi nhớ .
Thạch-hậu nghe nói, lòng bớt nghi ngờ , quay lại đón Chu-hu vào.
Vừa vào đền nơi, Chu-hu toan cúi mình thi lễ, thì bông có tiếng Tử-hàm hét lớn :
– Ta phụng mệnh vua nhà Châu, bắt hai tên loạn tặc Chu-hu và Thạch-hậu, còn các đồ-đảng đều được tha tội.
Tức thì quân giáp-sĩ áp lại bắt Chu-hu và Thạch-hậu trói lại lập tức
Lúc bấy giờ, Tử-hàm mới đem bức thư của Thạch-thác đọc cho mọi người nghe. Rõ ra đó là mưu của Thạch-thác muốn trừ loạn, ai nầy đều hài lòng.
Kế đó, Trần hoàn-công định đem Chu-hu và Thạch-Hậu ra chém, nhưng các quan can gián :
– Thạch-hậu là con của Thạch-thác, chưa biết ý kiến của Thạch-thác thể nào, xin Chúa-công mời sang nước Vệ nghị tội mới tránh khỏi điều oán trách sau nầy .
Xét thấy câu nói ấy có lý, Trần hoàn.Công truyền đem giam Chu-hu nơi Bộc-ấp, Thạch-hậu nơi Trần-đô để khối liên lạc với nhau. Ðoạn cho người sang nước Vệ báo tin cho Thạch-thác biết .
Thạch-thác từ khi cáo quan dưỡng lão, không đi đâu nửa bước , nay được thư nước Trần vội vã vào triều thương nghị.
Lúc đó bá quan đủ mặt , Thạch-thác mở thư ra đọc, mới biết Chu-hu và Thạch-hậu đều bị bắt chỉ còn đợi người sang Trần quyết định mà thôi.
Các quan đều nói :
– Ðấy là việc lớn cùa quốc-gia, chúng tôi một lòng trông cậy vào ý kiến của Ngài cả.
Thạch-thác nói :
– Hai đứa phản-loạn nầy không thể nào dung thứ được. Tội đáng chém đầu. Vậy ai có thể vì nước mà cán-đáng việc nầy ?
Quan Thái-tể Xủ bước ra thưa :
– Kẻ loạn tặc ấy ai cũng có thể giết được . Tôi tuy phận hèn song cũng lấy làm ức. Xin cứ giao việc ấy cho tôi.
Các quan đều đồng thanh nói :
– Phải ! Việc ấy mà giao cho quan Hữu-tế là phải lắm ! Nhưng xét ra Chu-hu mới là chánh-phạm, còn Thạch-hậu là kẻ a-tùng tưởng nên châm chế.
Thạch-thác nghe nói, nổi giận, hét :
– Chu-hu phản nghịch, chính tại đứa con tôi mà ra. Nay các quan nghị như thế là nghi tôi có tình riêng với nó hay sao. Thôi, tôi phải thân hành đến đó mà chém đứa loạn thần ấy thì mới dám nhìn vào lăng miếu của tiền nhân tôi !
Nhụ-dương-Kiên nói :
– Thôi , thôi, xin lão-quan chớ giận, để cho tôi đi thay cho.
Thạch-thác liền sai Thái-tể Xủ qua Bộc-ấp mà chém Chu-hu, còn Nhụ-dương-kiên thì sang Trần-đô mà chém Thạch-hậu. Rồi lại sai người sắm xe giá sang nước Hình mà rước công-tử Tân về.
Thái-tể Xủ và Nhụ-dương-kiên qua đến nước Trần, vào ra mắt Trần hoàn-công , đoạn thi hành sứ mạng mình.
Khi Thái-tế Xủ đến Bộc-ấp , truyền quân dẫn Chu-hu đến.
Trông thấy Thái-tể Xủ, Chu-hu kêu lớn :
– Có phải người đến đây để cứu ta chăng ?
Thái-tể Xủ lắc đầu đáp :
– Không phải để cứu, mà để giết.
Chư-hu trợn mắt hỏi :
– Ngươi làm tôi của ta, sao dám phạm đến ta ?
Thái-tể Xủ mĩm cười, đáp :
– Nước Vệ trước kia có ngươi bề tôi mà dám giết vua. Vì vậy, hôm nay ta bắt chước !
Nói xong, truyền quân chém đầu.
Còn Nhụ-dương-kiên khi đến Trần-đô cũng đem Thạch-hậu ra chém.
Thạch-hậu nói :
– Muốn chém ta cũng được, song hãy đưa ta về nước để ta trông thấy mặt phụ thân ta đã.
Nhụ-dương-kiên nói :
-Ta vâng lịnh phụ-thân của ngươi mà đến đây giám-sát. Nếu ngươi muốn thấy mặt cha ngươi thì để ta chém xong, xách đầu về nước Vệ, hẳn ngươi được gặp mặt.
Nói xong, vung gươm chém phứt.
Nhà chép sử về sau có thơ khen Thạch-Thác :
Tình nhà, nợ nước giữa hai đường ,
Thà bỏ tình riêng cứu nước non.
Khí phách còn lưu trong sử sách
Tấm gương đại-nghĩa kẻ trung-thần
Kế đó, công-tử Tân được rước về vào nhà Thái-miếu làm lễ cáo tế , rồi tức vị chư-hầu, xưng hiệu là Tuyên-công, và phong cho Thạch-thác làm quốc-lão, coi giữ việc triều-chính.
Từ ấy, nước Trần và Vệ càng thêm thân mật hơn trước.
Ðây nhắc qua Trịnh trang-công thấy năm nước đã rút binh về, bèn sai người đến Trường-các dò xem tin tức của Công-tử Bằng .
Bỗng nghe tin Công-tử Bằng vừa trốn về, xin vào yết kiến.
Trịnh trang-công lật đật cho vào, hỏi thăm duyên cớ.
Công-tử Bằng tâu :
– Trường-các đã bị binh Tống chiếm đoạt thành trì, nên tôi mới trốn về đây, xin hiền-hầu đoái tưởng.
Nói xong, Công-tử Bằng khóc oà.
Trịnh trang-công tìm lời an ủi rồi khiến Công-tử Bằng ra tạm trú nơi quán dịch, và cấp bỗng lộc rất nhiều.
Chẳng bao lâu, Trịnh trang-công được tin Chu-hu bị giết . Vệ-tuyên-công lên thay , bèn họp triều thần bàn bạc.
Trịnh trang-công nói :
– Trước đây Vệ sang đánh Trịnh là do Chu-hu chứ không can chi đến Vệ tuyên-công. Còn Tống, thì cố tình đánh Trịnh, nay ta muốn trả thù. Các quan nghĩ sao ?
Tế-Túc tâu :
– Trước kia năm nước cùng cử binh một lượt đánh Trịnh , tuy không cố tình song hành-động có liên-quan. Nếu ta cử binh đánh Tống, thể nào bốn nước kia cũng sợ vạ lây mà đem binh giúp Tống. Vậy trước nhất, phải sang hòa-hiếu nước Trần nước Lỗ rồi sẽ đánh Tống.
Trịnh trang-công nghe theo lời bàn ấy, liền cho người sang nước Trần giảng hòa.
Trần hoàn-công không chịu nhận.
Công-tử Ðà thấy thế hỏi :
– Kết thân với một nước láng-giềng là việc tốt, cớ sao Chúa-công lại từ chối.
Trần hoàn-công nói :
– Trịnh trang-công mưu trí khó lường. Tại sao Tống và Vệ là hai nước lớn mà Trịnh không đến cầu hòa, lại đến cầu hòa với Trần. Hẳn là có một dụng ý nào rồi ! Vả lại trước kia ta giúp Tống đánh Trịnh, nay lại chịu hòa với Trịnh thì Tống sẽ giận ta . Ðược lòng Trịnh, mất lòng Tống, nước ta cũng không lợi gì.
Nói xong, từ khước không chịu tiếp sứ.
Trịnh trang-công nghe được, nổi giận nói với các quan :
– Nước Trần cậy vào Tống và Vệ. Nay nước Vệ mới dẹp loạn chưa đả sức giúp đỡ ai. Nay ta giảng hòa với nước Vệ và Lỗ, rồi cứ binh sang đánh Tống và Trần ắt nên chuyện.
Tề-Túc quỳ tâu :
– Tâu Chúa-công, nước ta mạnh, nước Trần yếu, nay vô cớ chúng ta đến giảng-hòa, Trần nghi là ta có mưu kế mà không dám nhận. Vây xin Chúa-công cho quân tràn qua bờ cõi cướp giựt, rồi cho một sứ-giả có tài ăn nói đem những đồ đạc cướp được trả lại , tỏ tình thân mật, thì Trần sẽ chịu hòa.
Trịnh trang-công cho là hữu-lý, liền phái năm đạo quân đến cướp phá nơi biên-thùy nước Trần, cướp được hơn một trăm xe lương thực chở về kinh đô nước Trịnh.
Trần hoàn-công, nghe biên thùy bị quân Trịnh đến cướp, bèn họp các quan bàn bạc.
Các quan còn đương luận kế, thì bỗng nghe có sứ-giả nước Trịnh là Dĩnh khảo-thúc đem các đồ bị cướp sang trả, và dâng thư của Trịnh trang-công.
Trần hoàn-công lấy làm lạ, hỏi Công-tử Ðà :
– Ðã đem binh cướp phá, lại cho sứ sang là ý gì vậy ?
Công-tử Ðà tâu :
– Tâu Chúa-công đó là nước Trịnh muốn tỏ sự thật tâm của họ xin Chúa-công chớ nên khước từ.
Trần hoàn-công cho Dĩnh khảo-thúc vào yết-kiến, và mở bức thư của Trịnh trang-công ra xem .
Trong thư đại lược nói :
Ngộ-sanh nước Trịnh, kính dâng thư nầy cho Trần hiền-hầu nhã-giám.
Tôi cùng hiền-hầu thảy đều là bề tôi của nhà Châu , vì vậy trước đây tôi có sai sứ đến giao hảo. Chẳng ngờ hiền-hầu từ khước nên quân sĩ nơi biên thùy ngỡ hai nước có điều xích mích, mới tự tiện xâm phạm bờ cõi hiền-hầu.
Hay được việc ấy tôi lấy làm áy náy, vội sai Dĩnh-khảo-thúc đem các vật bị cướp trả lại mà tạ tội.
Mong từ đây hai nước kết nghĩa anh em, chắc hiền-hầu không nỡ từ chối .
Trần hoàn-công xem thư xong, liền tiếp đãi Dĩnh khảo-thúc rất niềm nỡ .
Ðoạn cho Công-tử Ðà sang đáp lễ .
Hai nước bắt tay giao hảo.
Lúc bấy giờ Trịnh trang-công mới hỏi Tề-túc :
– Nay đã hòa với Trần rồi, thế thì ta làm cách nào để đánh Tống ?
Tế-Túc tâu :
– Tâu Chúa-công, nước Tống là một nước lớn lại được vua Châu trọng đãi, chớ nên đánh vội. Trước kia Chúa-công đã muốn vào chầu triều Châu nhưng vì mắc đi phó-hội với nước Tề tại Thạch-môn, sau đó bị Chu-hu dấy loạn, mà phải bỏ dở dự tính. Nay Chúa-công hãy vào triều Châu, rồi trở về dối , xưng là có mạng vua, họp quân nước Tề và Lỗ sang phạt Tống. Như vậy ắt thắng đặng.
Trịnh trang-công cho lời của Tề-túc là hợp lý. Bèn giao việc triều chính cho Thế-tử Hốt, rồi cùng Tề-Túc lên đường sang triều Châu.
Chu-công Hắc-Kiên nghe tin, khuyên Châu hoàn-vương nên tiếp đãi Trịnh trang-công cho tử-tế, để làm gương cho các chư hầu .
Tuy nhiên, Châu hoàn-vương vốn ghét Trịnh trang-công, nhất là nhớ đến việc Trịnh sang cướp lúa, lòng vẫn chưa nguôi.
Lúc Trịnh trang-công vào chầu, Châu hoàn-vương hỏi :
– Sao bên nước Trịnh năm nay mùa màng ra thế nào ?
Trịnh trang-công tâu :
– Tâu Bệ hạ, nhờ hồng-phước của Bệ-hạ, năm nay không bị thiên-tai hạn-hán.
Châu hoàn-vương cười lớn, nói :
– Thật là may ! Nước Trịnh có được mùa thì nhà Châu mới còn lúa đất Ôn , đất Thành mà ăn chứ !
Thấy Châu hoàn Vương nói nhiều điều gay gắt, Trịnh trang-công bèn bái tạ lui ra.
Châu hoàn-vương không thết đãi chi hết, chỉ sai người đem ra ban cho Trịnh trang-công mười xe lúa và dặn :
– Cho lúa nầy để dành ăn lúc mất mùa .
Trịnh trang-công nói với Tề-túc :
– Tại ngươi khiến ta vào chầu vua, nên phải hứng lấy những lời mỉa-mai cay đắng. Nay vua lại còn ban mười xe lúa để ngạo ta, ý ta không muốn lãnh, vậy phải đùng lời chi mà từ chối.
Tề-Túc tâu :
– Các nước chư-hầu kính trọng nước Trịnh là vì đã mấy đời nước Trịnh làm Khanh-sĩ nơi triều Châu. Nay vua đã cho, nếu chúa-công không lãnh, ắt các chư hầu đều biết Chúa-công không thuận với vua nữa. Mà vua đã không ưa Trịnh, các chư hầu còn trọng gì đến Trịnh ?
Trong lúc đương thương nghị, xảy có Châu-công Hắc-kiên đến thăm, lại cho riêng hai xe vàng lụa.
Trịnh trang-công hỏi Tề-Túc .
– Châu-công Hắc-kiên chẳng biết có ý gì mà lại kính-trọng ta như thế ?
Tề-Túc tâu :
– Vua nhà Châu có hai người con trai : người lớn là Ðà, người nhỏ là Khắc. Vua Hoàn-vương yêu con thứ, muốn gởi gắm cho Châu-công Hắc-kiên mưu việc lập con thứ sau nầy vì vậy Châu-công Hắc-kiên muốn mua lòng Chúa-công . Chúa-công nên nhận vàng lụa ấy mà dùng vào việc khác.
Trịnh trang-công hỏi :
– Ý ngươi muốn dùng vào việc chi ?
Tề-Túe tâu :
– Chúa-công vào triều Châu, các chư hầu đều biết. Nay đem lúa của Châu-công Hằc-kiên chia làm mười xe, lấy gấm gói lại. Ðến ngầy ra về nói dối rằng của vua cho, lại bày thêm cung tên để tuyên-bố với các chư-hầu là vâng mạng vua đi phạt Tống , vì Tống thiếu lễ triều cống. Như vậy, chư hầu ắt tuân theo lệnh ta.
Trịnh trang-công thích-ý, vổ vai Tề-Túc, nói :
– Ngươi quả là nhột trí-sĩ. Ta sẽ theo kế ấy mà làm.
Quả vậy, lúc trở về, Trịnh trang-công phao tiếng lên, ai nay đều tin thực. Tiếng đồn đến tai Tống tương-công .
Tống tương-công cả sợ , lén sai sứ qua nói với Vệ tuyên-công.
Vệ tuyên-công lại bàn với Tề hi-công tìm cách làm cho Tống và Trịnh giao hảo với nhau.
Tề hi-công viết giấy mời Trịnh, và hẹn với các nước họp nhau tại Ngõa-ốc để giải hòa việc ấy.
Ðúng kỳ hẹn, không thấy Trịnh trang-công đến dự , Tề-hi-công nói :
– Trịnh trang-công không đến dự thì việc nghị hòa bất thành .
Nói xong, lên xe ra về.
Tống tương-công muốn giữ lại, nhưng Tề hi-công tỏ thái-độ lãnh-đạm với hai nước Tống và Vệ.
Lúc bấy giờ tại triều Châu , vua Hoàn-vương có ý bãi chức Khanh-sĩ của Trịnh trang-công, nhưng Châu-công Hắc-kiên hết lòng can gián nên Hoàn-vương mới đem Quách-công Kỵ-Phủ dùng làm hữu Khanh-sĩ, coi việc triều-chính còn Trịnh trang-công làm tả khanh-sĩ, tức là hư-vị mà thôi.
Trịnh trang-công hay đặng việc ấy, cười và nói với Tề-Túc :
– Ta biết Châu hoàn-vương chưa dám cất chức ta đâu .
Kế đó, nghe ba nước Tống Tề và Vệ họp nhau tại Ngõa-ốc .
Trịnh trang-công hỏi Tề-Túc.
– Ta nghe Tề hi-công kết giao với Tống tương-công là ý gì ?
Tề-Túc tâu :
– Tống và Tề đâu phải là chổ thâm giao. Sở dĩ hai người gặp nhau là vì có Vệ tuyên-công đứng giữa điều đình, chớ không thật bụng muốn liên-kết. Nay Chúa-công đem lệnh nhà Châu, truyền cho Tề, Lỗ, lấy quân nước Sái, Vệ, Thành và Hứa họp về đánh Tống thì sẽ không có một nước nào trái lệnh được.
Trịnh trang-công nghe theo lời, cho một sứ-giả đến nước Lỗ hẹn nếu lấy được đất Tống sẽ cho Lỗ cả.
Quan Ðại-phu nước Lỗ là Công-tử Vận, có tánh tham-lam, liền tâu với Lỗ-hầu kéo binh họp với nước Tề, nước Trịnh tại Trung-khẩu .
Nước Tề thì Tề hi-công sai em là Di-trọng-niên làm tướng.
Còn nước Lỗ thì Lỗ an-công sai Công-tử Vận cầm binh, cả hai lãnh đi tả hữu. Nước Trịnh giữ đạo trung quân. Trịnh trang-công dẫn Công-tử Lữ, Cao-cừ-di, Dĩnh khảo-thúc. Công tôn-yết kéo đại binh dưới cờ hiệu để bốn chữ lớn : Phụng thiên thảo tội , kéo qua nước Tống.
Công-tử Vận đi trước đến đất Lão-đào. Tướng giữ ải ấy đem binh ra cự, bị Công-tử Vận đánh cho một trận manh giáp tơi bời, bỏ thành mà chạy: Thắng được trận đầu Công-tử Vận báo tin cho Trịnh trang-công hay.
Trịnh trang-công kéo rốc binh đến Lão-đào hạ trại, khao thưởng ba quân.
Nghĩ lại đó vài hôm, Trịnh trang-công lại khiến Dĩnh khảo-thúc hiệp với Công-tử Vận đánh phá Phòng-thành, Cao cừ-di đem binh tiếp ứng , còn đại-binh thì vẫn đóng nơi Lão-đầo mà đợi tin.
Tống tương-công nghe tin ba nước Tề, Lỗ, Trịnh cử binh sang đánh, lòng sợ sệt, kêu Khổng phụ-gia vào hỏi kế.
Khổng phụ-gia tâu :
– Tôi đã sai người đến triều Châu thám thính, nhưng không nghe có lệnh Bệ-hạ sai phạt Tống, đây chắc là Trịnh đã mượn lệnh vua, dối gạt chư-hầu. Tề và Lỗ đều mắc mưu. Tuy-nhiên ba nước đã hiệp binh, nước ta không thể nào cự lại. Nay tôi có kế nầy ắt Trịnh phải lui binh.
Tống tương-công nói :
– Quân Trịnh đang đắc thắng, lẽ nào lại chịu lui ?
Khổng phụ-gia tâu :
– Tuy Trịnh mượn lệnh vua, gạt chư hầu, nhưng chỉ có Tề và Lỗ theo Trịnh mà thôi. Nay Trịnh trang-công bỗn thân dẫn binh mã sang đây, thì nước phải bỏ trống. Chúa-công dùng của hối lộ cho nhiều, đem đâng cho Vệ-công, xin người hiệp binh với nước Sái, thừa cơ sang đánh Trịnh. Trong nước có giặc, Trịnh trang-công phải đem binh về cứu. Binh Trịnh mà lui rồi thì Tề với Lỗ ở lại làm gì ?
Tống tương-công đáp :
– Kế ấy hay lắm. Song việc nầy phải đích thân ngươi qua nước Vệ thì Vệ-công mới chịu cất quân.
Không phụ-gia nói :
– Tôi xin tình nguyện dẫn một đạo quân chỉ đường cho Vệ sang đánh Trịnh .
Tống tương-công liền phát cho Không phụ-gia một muôn binh , đem theo vàng bạc châu báu dâng cho Vệ-công đặng cầu xuất binh đánh Trịnh.
Vệ tuyên-công nhận lễ vật, và sai Thái-tể Xủ hiệp binh với Khổng phụ-gia đi đường tắt kéo thẳng đến Vinh-dương.
Trong lúc bất ngờ, Thế-tử Hốt và Tế-Túc vội đóng cửa thành cố-thủ.
Quân Vệ và Tống cướp giựt của cải ngoài thành rất nhiều.
Thái-tể Xủ tỏ ý muốn đốc quân phá thành, Khổng phụ-gia can rằng :
– Quân lực ta kéo đến đây chẳng bao nhiêu, phải thừa cơ mà đánh mới thắng nổi. Nay đóng quân ngoài thành nếu Trịnh trang-công dẫn binh về cứu viện thì chúng ta thoát đi đàng nào được . Chi bằng mượn đường tắt của Ðái-quốc mà lẻn về nước . Tôi liệu hễ quân ta bỏ Trịnh mà về, thì ắt Trịnh cũng bỏ Tống mà đi.
Thái-tể Xủ nghe theo sai người qua Ðái-quốc mượn đường.
Nhưng nước Ðái nghi Vệ và Tống âm-mưu đánh úp nước mình, nên từ chối, đóng chặt cửa ải.
Không phụ-gia nổi giận, hợp với quân Thái-tể Xủ chia làm hai đạo đánh vào nước Ðái.
Ðồng thời cho người sang nước Sái mượn thêm quân đánh giúp.
Lúc bấy giờ, ở mặt trận nước Tống, Dĩnh khảo-thúc đã phá được Cáo-thành, còn Công-tử Vận đã phá được Phòng-thành. Hai tướng đều sai người về dinh Trịnh trang-công báo-tiệp .
Giữa lúc đó , Trịnh trang-công lại cũng nhận được văn thư của Thế-tử Hốt gởi đến cáo cấp.

Hồi 7
Ganh tài, Công-tử Át giết Khảo-thúc
Tham chức, Công-tử Vận hại vua hiền

Trịnh trang-công nhận được thư Thế-tử Hốt, vội vã truyền lui quân về nước.
Di trọng-niên và Công-tử Vận hay được tin, đến ra mắt Trịnh trang-công và hỏi :
– Chúng tôi đã lấy được hai thành của nước Tống, thế quân đang mạnh, sao Chúa-công lại truyền lui binh ?
Trịnh trang-công vốn là một kẻ đa mưu, túc trí không cho Tề và Lỗ biết được nội tình của mình, bèn đáp :
– Ta phụng mệnh kéo binh đánh Tống, nay nhờ binh hai nước mà chiếm được hai thành. Như thế tưởng cũng đã đũ trị tội Tống rồi . Hơn nữa, Tống là con cháu của nhà Thương, Thiên-tử vẫn có lòng kính, ta không nên làm đến quá lẽ. Hai thành vừa chiếm được xin nhượng lại cho Tề và Lỗ, mỗi nước một thành.
Di trọng-niên nói :
– Chúa-công phụng-mệnh Thiên-tử đem binh phạt Tống. Bổn phận chúng tôi là phải đem binh đến giúp, đâu dám kể công.
Nói rồi nhất định từ chối không nhận đất.
Trịnh trang-công nói :
– Nếu Tề không nhận thì xin tặng cả hai thành ấy cho Lỗ để đền ơn khó nhọc đã vào Lão Ðào trước.
Công-tử Vận không từ chối gì cả tỏ lời cảm tạ Trịnh trang-công rồi sai người ra trấn giữ hai thành ấy.
Trịnh trang-công bày tiệc khao thưởng quân sĩ, rồi cùng với công-tử Vận, Di trọng-niên làm lễ ăn thề, hứa sẽ giúp đỡ cùng nhau trong cơn hoạn nạn.
Ðoạn ba nước chia tay, quân nước nào kéo về nước nấy.
Di trọng-niên về nước, thuật lại cho Tề hi-Công nghe việc ấy được hai thành nước Tống và nhường cho nước Lỗ.
Tề hi-công nói :
– Trước kia ta đã có lời thề với Trịnh trang-công nơi Thạch-Môn, hễ có việc thì giúp nhau, nay tuy lấy đặng thành, lẽ phải giao về Trịnh mới đúng.
Di trọng-niên tâu :
– Trịnh-bá cố chối từ, chẳng chịu lãnh, nên mới giao hết cho Lỗ-hầu.
Tề hi-Công nghe nói, cho Trịnh trang-công là kẻ đại-độ, và khen ngợi không ngớt.
Khi Trịnh trang-công đem binh về đến nữa đường thì lại nghe tin quân Vệ đã sang đánh nước Sái.
Trịnh trang-công vỗ tay cười lớn, nói :
– Khổng phụ-gia quả là một kẻ chưa rành binh-pháp. Ðang đánh nước Trịnh mà lại gây chuyện với nước Sái, như thế tức là đã công làm hại được nước ta mà còn giúp cho ta có cơ-hội tốt để lấy nước Sái rồi.
Bèn truyền cho bốn tướng phân làm bốn đội, cuốn cờ, giấu trống, kéo thẳng đến Sái-quốc.
Trong lúc đó Vệ và Tống đang hiệp binh với nước Sái bàn mưu công thành.
Bỗng có quân vào báo :
– Nước Trịnh sai thượng-tướng là Công-tử Lữ đem binh qua cứu nước Sái, hiện đóng trại cách thành năm chục dặm.
Thái-tể Xủ nói :
– Ðó là tướng thua Thạch-hậu ngày trước, có đũ chi mà sợ.
Lại có tin báo nữa rằng :
– Nước Sái đã mở cửa thành đón quân Trịnh vào.
Khổng phụ-gia thất kinh, nói :
– Ta coi nước Sái như đã lấy được trong tay, nay có binh Trịnh đến giúp, thật khó bề thắng nổi !
Thái-tể Xủ nói :
– Nếu Trịnh đã giúp Sái, thể nào cũng đem binh khiêu chiến . Vậy ta lên lủy cao xem thử trong thành động tịnh thế nào, để biết mà đối phó.
Hai người dắt nhau vừa lên đến chổ cao, bỗng nghe có tiếng súng nổ vang trời, qua một lúc, trên thành nước Sái cắm toàn cờ Trịnh, và Công-tử Lữ mặc áo giáp đứng trên thành gọi Khổng phụ-gia nói lớn :
– Ta cảm ơn tướng-quân đã giúp ta chiếm được nước Sái rồi nhé !
Ấy là mưu của Trịnh trang-công lập kế sai Công-tử Lữ giả danh giúp Sái, rồi khi vào được trong thành mới đuổi vua nước Sái đi mà chiếm đất.
Vua nước Sái phải bỏ trốn sang Tần thoát nạn .
Khổng phụ-gia thấy thế máu giận sục sôi, ném mũ xuống đất hét lên :
– Ta quyết không đội trời chung với Trịnh .
Thái-tể Xủ nói :
– Trịnh trang-công binh pháp rất lợi hại, thế nào bên ngoài cũng có quân tiếp ứng. Nếu trong ngoài đánh dồn lại, quân ta nguy mất !
Khổng phụ-gia nói :
– Sao tướng quân lại nhát gan đến thế ? Chẳng lẽ công-phu chúng ta vây thành, nay lại nhường cho Trịnh chiếm cứ hay sao . Bề nào cũng phải đánh mới được.
Dứt lời, trong thành có người mang chiến thư ra, thách đánh .
Khổng phụ-gia phê vào chiến-thư, hẹn ngày mai nghênh-chiến.
Ðêm ấy, quân của Khổng phụ-gia đóng trại cách thành hai mươi dặm để đề phòng quân tiếp viện.
Nhưng trại vừa đóng xong thì tiếng súng đã nổ ran, quân Trịnh kéo đến khiêu chiến, ánh lửa đốt sáng lòe.
Khổng phụ-gia nổi giận, tay cầm phương-thiên họa-kích, giục chiến xa đến trước trận ứng chiến.
Nhưng khi đến nơi, ánh lửa tắt lịm, không thấy một tên quân Trịnh nào.
Khổng phụ-gia kéo quân về trại . Nhưng vừa về đến trại, thì lại thấy lửa cháy sáng lòe , tiếng súng nổ chan-chác.
Không phủ-gia nói :
– Ðó là kế nghi binh của quân Trịnh muốn đánh lừa ta đó thôi .
Bèn ra lệnh án binh bất động.
Bỗng có quân vào báo :
– Quân nước Sái đã bị Trịnh đánh tan vỡ .
Khổng phụ-gia lập tức đem quân đi cứu ứng.
Vừa ra khỏi trại chừng vài dặm , gặp một toán quân kéo lại hai bên xáp chiến, đánh nhau một hồi lâu, mới biết đó là đội quân của nước Vệ.
Hai bên thẹn mặt nhau lòng đầy hậm hực.
Nguyên Thái-tể Xủ đang ở tại bản dinh nghe tin trại Tống bị quân Trịnh chiếm, liền đem quân cứu ứng không ngờ đó là kế của Trịnh.
Khổng phụ-gia truyền quân rút lui về đại-bản-dinh. Nhưng về đến nơi thì tướng Trịnh là Cao cừ-di đã đem quân chiếm đoạt mất rồi . Không biết làm sao hơn Khổng phụ-gia liền hiệp với Thái-tể Xủ đánh liều một trận . Nhưng trong tình thế quân binh rối loạn, tướng-tá mất tinh-thần đành phải mang thảm-bại .
Khổng phụ-gia liều chết mở đường máu dẫn hơn hai mươi bộ hạ thoát thân về nước.
Còn Thái-tể Xủ thì bị tử trận giữa đám loạn quân.
Trịnh trang-công chiếm được nước Sái, lại thắng liên-quân Vệ, Tống và Sái đoạt được rất nhiều chiến-xa và binh-khí, bèn ra lịnh ban-sư.
Về đến kinh-đô, Trịnh trang-công truyền bày tiệc ăn mừng, ai nấy vui cười hớn-hở.
Trịnh trang-công đắc-ý bưng ly rượu rót xuống đất cầu thần, và nói :
– Nhờ linh-khí của non sông và âm-đức của tổ-tông lại được các quan hết lòng phò tá, thế mạnh , binh hùng, đánh đâu thắng đó, không khác gì các Phương-bá ngày xưa.
Các quan đều tung hô vạn tuế .
Riêng có Dĩnh khảo-thúc ngồi nín lặng không nói một lời nào.
Trịnh trang-công trừng mắt nhìn Khảo-thúc.
Khảo-thúc tâu :
– Tâu Chúa-công, các bậc Phương-bá ngày xưa làm chủ cả chư hầu, đi đánh đâu ai nầy đều phụng-mệnh. Còn ngày nay Chúa công giả mệnh Thiên-tử đi phạt Tống và Vệ, Sái lại đám giúp Tống đánh Trịnh còn Thành và Hứa lại không chịu xuất binh phó hội như thế tưởng chưa sánh được với người xưa.
Trịnh trang-công nghe nói tươi cười đáp :
– Lời ngươi nói rất phải . So với các Phương-bá ngày xưa quyết ta chưa thể bì kịp. Nay Vệ và Sái đã dẹp rồi còn Thành và Hứa ta phải cử binh vấn tội . Vậy theo ý ngươi nên đánh nước nào trước ?
Dĩnh khảo-thúc tâu :
– Nước Thành giáp ranh với nước Tề, nước Hứa giáp ranh với nước ta. Trước nhất phải sai tướng qua giúp Tề đánh nước Thành rồi sau lại mượn binh Tề mà đánh Hứa. Khi dẹp xong hai nước phải sai sứ qua Châu báo tin thắng trận để khỏi mang tiếng dối Thiên-tử .
Trịnh trang-công khen phải, liền sai sứ sang Tề bàn về việc ấy.
Tề hi-công sai tướng Di trọng-niên hợp binh với Công-tử Lữ kéo qua đánh nước Thành.
Nước Thành hay tin sợ lắm sai người qua Tề xin hàng-phục .
Tề hi-công viết thư cho Trịnh trang-công hay và hỏi lúc nào cất quân đánh Hứa .
Trịnh trang-công ước hẹn hợp binh tại Thới-lai đất Trịnh và nhờ Tề làm trung-gian mượn thêm binh nước Lỗ.
Công-tử Lữ đi đánh Thành, kéo binh về đến nữa đường nhuốm bịnh mà thác .
Trịnh trang-công thương tiếc vô cùng, than thở :
– Công-tử Lữ mệnh-chung , thật ta đã mất đi một cánh tay phải .
Nói rồi, đem tiền bạc, lụa là ban thưởng cho gia đình Công-tử Lữ, lại cho em Công-tử Lữ là Công-tử Nguyên làm Ðại-phu.
Trịnh trang-công còn định cho Cao cù-di làm chức Thượng-khanh nhưng Thế-tử Hốt bàn rằng :
– Cao cừ-di là một kẻ tham tâm không phải người trung chánh xin phụ-thân chớ khá tin dùng.
Trịnh trang-công bèn đem chức ấy phong cho Tề-Túc, thay Công-tử Lữ, còn Cao cừ-di thì phong làm Á-khanh.
Chẳng bao lâu đã đến ngày ước hẹn, hai đạo quân Tề và Lỗ đồng hội tới đất Thới-lai để hiệp với Trịnh đi đánh Hứa.
Trịnh Trang-công bày ra một cuộc duyệt binh để biểu-dương sức lực . Lại chế ra một lá cờ bằng gấm mỗi bề dài một trượng hai , xung quanh có đeo hai mươi bốn cái lục-lạc bằng đồng, và giữa đề bốn chữ : “Phụng thiên thảo tội”.
Cán cờ dài hơn ba trượng , cắm trên một cỗ xe rất lớn.
Trịnh Trang-công truyền rằng :
– Nếu ai cầm nồi cây cờ ấy đi lại hai vòng thì được lãnh chức tiên-phuông, và thưởng cho một cỗ lộ-xa.
Lịnh vừa ban ra thì có một viên đại-tướng, mặt đen, đầu đội mũ bạch mình mặc áo bào , hàm râu quai nón, con mắt dài, lông mày rậm, bước ra xin lãnh.
Mọi người xem lại thì đó là tướng Hà thúc-doanh .
Hà thúc-doanh cất giọng sang-sảng giữa ba quân :
– Tôi tuy tài hèn, cũng xin đảm đương việc ấy.
Nói rồi xốc đến hai tay nâng cán cờ, cầm chửng-chạc đi lại ba vòng, rồi cắm vào chiếc xe như trước.
Hai bên quân sĩ vỗ tay reo hò ầm ĩ.
Hà thúc-doanh vừa tiến đến tạ ơn Trịnh trang-công để lãnh thưởng, thì lại có một viên đại-tướng khác nhảy ra nói lớn :
– Cầm cờ mà đi việc ấy đâu có lạ. Tôi có thể cầm cờ mà múa nữa kia !
Mọi người ngoảnh lại nhìn thì đó là đại-tướng Dĩnh khảo-thúc đương giữ chức Ðại-phu.
Dĩnh khảo-thúc nói dứt lời, bước tới xăn tay áo nhổ cán cờ lên múa tít như múa một cây trường thương.
Lá cờ lúc mở ra, lúc cuốn lại uốn theo chiều gió trông rất đẹp mắt. Ai trông thấy cũng phải kinh ngạc tấm-tắc khen thầm.
Trịnh trang-công mừng rỡ, kêu Dĩnh khảo-thúc nói :
– Khanh quả là một hổ-thần , đáng lãnh ấn tiên-phuông và được thưởng chiếc lộ xa.
Nhưng, Trịnh trang-công vừa dứt tiếng thì lại có một chàng thanh-niên mặt trắng như dồi phấn, môi đỏ tợ thoa son, mình mặc giáp xanh, đầu đội mũ ốc, bước tới chỉ Dĩnh khảo-thúc, nói lớn :
– Hãy khoan lấy xe ! Ta đây lại chẳng múa nổi cây đại-kỳ hay sao ?
Dứt lời nhảy đến giựt cây cờ, nhưng Dĩnh khảo-thúc đã lanh lẹ một tay cầm cờ, một tay lôi chiếc lộ-xa, chạy như gió.
Chàng thanh-niên đuổi theo, nhưng không kịp, đành phải trở lại, mặt giận hầm hầm, miệng lẩm-bẩm :
– Ðược, ta cứ để cho ngươi khoanh tay . Rồi đây ngươi sẽ thấy .
Chàng thanh niên đó là Công tôn-át tự là Tử-đô một viên tiểu-tướng đẹp trai nhất ở thời Ðông-châu mà Trịnh trang-công rất yêu vì.
Tuy-nhiên, Công tôn-át vốn tánh ỷ mạnh, cậy quyền, không ưa Dĩnh khảo-thúc. Nay nhân việc tranh-cờ lại càng làm cho hai bên gây thêm ác cảm.
Trịnh trang-công thấy vậy, kêu Công tôn-át đến nói :
– Hai cọp tranh nhau kết-quả sẽ không hay. Ta đã có cách phân xử.
Nói rồi truyền lấy một chiếc lộ-xa khác thưởng cho Công tôn-át và Hà thúc-doanh.
Tháng bảy năm ấy, Trịnh trang-công giao việc trìều-chính cho Thế-tử Hốt rồi tiến binh đánh Hứa.
Binh Tề và Lỗ đã đóng sẵn ở Ðô-thành rồi.
Khi gặp nhau, Trịnh trang-công mở tiệc khao quân, Tề hi-công rút trong túi lấy ra một tờ hịch kết tội nước Hứa không triều cống nhà Châu.
Ai nấy đều cho là phải.
Ngày hôm sau, ba nước chia quân vây thành.
Nước Hứa tuy nhỏ, thành lủy không chắc, nhưng nhờ Chúa nước Hứa rất nhân-từ cả nước đều mến yêu, đồng-tâm cố thủ, làm cho quân Tề, Lỗ và Trịnh khó bề phá thành nổi.
Tề và Lỗ chỉ đánh cầm chừng, duy có Trịnh công thành rất gắt.
Dĩnh khảo-thúc lại muốn tranh công với Công tôn-át, nên nỗ lực xông đến trước vòng vây, tay cầm cờ, tay cầm trường-thươrg nhãy phóng lên mặt thành.
Công tôn-át trông thấy, sợ Dĩnh khảo-thúc đoạt được công-lao, bèn lắp tên bắn lén một phát Dĩnh khảo-thúc bị tên, té nhào xuống đất, bỏ mạng.
Hà thúc-doanh tưởng Dĩnh khảo-thúc bị giặc bắn, bèn lướt đến giật cây cờ, nhẩy lên mặt thành hô lớn :
– Chúa công ta đã lên mặt thành rồi !
Quân Trịnh ngỡ thật, đua nhau nhảy lên, phá vỡ cửa thành.
Quân Lỗ và Tề cũng do cửa ấy tràn vào.
Chúa nước Hứa thấy vậy, bỏ thành trốn sang nước Vệ lánh nạn.
Lấy được nước Hứa rồi, Trịnh trang-công nhường cho Tề và Lỗ.
Nhưng Tề và Lỗ đều không nhận, nói :
– Công-lao của Trịnh rất nhiều, chúng tôi đâu có bụng tham lam như vậy.
Trịnh trang-công, tuy trong lòng rất muốn được đất Hứa, song ngoài mặt vẫn phải giả cách rộng rãi với hai nước đồng-minh.
Giữa lúc ấy có quân vào báo :
– Tâu Chúa-công, có quan Ðại-phu nước Hứa là Bá-Lý dẫn một đứa trẻ vào ra mắt .
Trịnh trang-công truyền cho vào.
Bá-Lý dẫn đứa bé đến quỳ dưới trướng, tâu :
– Tâu Chúa-công, xin Chúa-công rộng lòng thương giòng giống nước Hứa.
Tề hi-công hỏi :
– Chẳng hay đứa bé ấy là ai
Bá-Lý tâu :
– Chúa nước Hứa không có con nối dõi, chỉ còn đứa bé nầy là em ruột, tên gọi là Tân-thần.
Tề hi-công và Lỗ ân-công nghe nói có ý thương hại.
Còn Trịnh trang-công thì đã nghĩ ngay một mưu kế, bèn nói :
– Ta phụng-mệnh Thiên-tử hiệp binh cùng hai nước phạt Hứa, nay Hứa trang-công là kẻ có tội đã trốn đi rồi, thì nước ta giao lại cho người nối dõi, như thế mới phải lẽ.
Bá-Lý tâu :
– Tâu Chúa-công, tôi đến đây chỉ mong nhờ lượng khoan-dung của ba nước, bảo bọc cho đứa bé mồ-côi nầy, chứ đâu dám trông mong đến bờ cõi.
Trịnh trang-Công nói :
– Ý ta trả nước Hứa lại là thực tâm . Nhưng xem Tân-thần còn nhỏ dại quá, vậy ta sẽ cho người đến giúp.
Trịnh trang-công bèn chia nước Hứa làm hai, một nữa để Bá-Lý phò-tá Tân-thần, một nữa giao cho Công tôn-hoạch, bề ngoài nói là giúp Hứa, nhưng bên trong là để coi việc cai-trị .
Tề hi-cồng và Lỗ ân-công đều cho Trịnh trang-công là người đại độ khen phục chẳng cùng.
Bá-Lý và Tân-thần đều quỳ lạy tạ ơn rồi lui về .
Ba nước cũng đều ra lịnh rút quân.
Trịnh trang-công về đến nước khao thưởng ba quân, lòng buồn bã thương tiếc Dĩnh khảo-thúc không cùng.
Nghĩ mãi, Trịnh trang-Công cũng không rõ ai đã bắn chết Dĩnh khảo-thúc.
Bèn truyền cho quân sĩ, cứ một trăm người nạp một con heo, hai mươi người nạp một con gà mà làm lễ tế Dĩnh khảo-thúc . Ðồng thời, vời các đồng cốt đến để đọc văn nguyền rủa kẻ đã bắn chết Dĩnh khảo-thúc .
Công tôn-át chỉ bịt miệng cười thầm.
Lễ nguyền rủa cử-hành được ba ngày thì bỗng có một người đầu bù tóc rối, chạy đến trước mặt Trịnh trang-công quỳ tâu :
– Tôi là Dĩnh khảo-thúc, khi đánh nước Hứa, nhãy lên mặt thành , bị tên gian-thần Công tôn-át hiềm việc giành xe , nên đã bắn lén tôi. Tôi đã xin Ngọc-hoàng Thượng-đế bắt nó đền mạng . Xin Chúa-công thấu rõ ẩn tình , thì dầu ở dưới suối vàng, hồn tôi cũng được an ủi .
Nói xong, kẻ ấy lấy tay móc họng, máu tuông lai láng, rồi ngã xuống đất chết lập tức.
Trịnh trang-công thất kinh, xem lại thì đó không phải người đàn bà mà lại là Công tôn-át, liền cho người cứu chữa , nhưng đã muộn .
Lúc bấy giờ Trịnh trang-công sai sứ thay mặt cho mình , mang lễ vật qua Tề và Lỗ để tạ ơn việc đem binh cứu giúp.
Nhưng sứ-giả đi qua Lỗ, lại mang thư và lễ vật trở về.
Trịnh trang-công lấy làm lạ, đòi vào hỏi.
Sứ giả tâu :
– Tôi vừa đến biên-giới nước Lỗ thì nghe tin Công-tử Vận đã giết Lỗ ân-công mà lập vua khác. Tôi sợ lễ-vật và thư nầy đưa đến không hợp-ý Chúa-công, nên phải trở về phục-mệnh.
Trịnh trang-công nghe nói than rằng :
– Lỗ ân-công là người hiền đức sao lại bị giết như thế !
Sứ-giả tâu :
– Tâu Chúa-công, vụ ấy tôi được biết rõ . Nguyên trước kia Lỗ huệ-công có lấy một tiểu-thiếp là Trọng-tử, sanh đặng người con trai là Quỹ. Huệ-công muốn nhường ngôi cho Quỹ. Nhưng lúc Huệ-Công chết, Quỹ còn nhỏ, nên Lỗ ân-công lên kế vị. Lỗ ân-công là con một người thiếp khác. Tuy-nhiên, mặc dầu được nối ngôi Lỗ ân-công không hề quên ý-định của cha, nên thường nói : Nước Lỗ này là của Công-tử Quỹ , ta chỉ tạm thay quyền quốc chính mà thôi. Một hôm, Công-tử Vận xin ân-công ban cho chức Thái-tể. Lỗ ân-công nói : Ngươi đợi khi nào Công-tử Quỹ lên ngôi hãy xin . Công-tử Vận không biết Lỗ ân-công nói thật lòng, cho là lời châm biếm và tưởng Lỗ ân-công ghét Công-tử Quỹ , nên một hôm tâu với Lỗ ân-công : Tôi thiết nghĩ ngôi báu Chúa-công đang giữa thiên hạ đều kính phục thì đợi đến khi trăm tuổi truyền lại cho con cháu , sao Chúa-công lại trao trả cho Công-tử Quỹ làm chi . Theo ý tôi, nay Công-tử Quỹ đã lớn, nên lập kế giết đi để trừ hậu hoạn. Lỗ ân-công xua tay nói : Ngươi không phải là kẻ điên cuồng , cớ sao thốt ra những lời bất chính như vậy . Ta đã sửa sang cung thất ở Ðồ-Cừu để an-hưởng tuổi già, mà trả ngôi lại cho Công-tử Quỹ. Công-tử vận nghe nói, biết mình lỡ lời, sợ Lỗ ân-Công đem lời ấy nói lại với Công-tử Quỹ, thì sau nầy ắt mang hại bèn nghĩ ngay một kế tìm đến Công-tử Quỹ nói nhỏ : Nay Công tử đã lớn, Chúa-công sợ Công-tử đoạt mất ngôi nên kêu tôi vào cung mật sai tôi giết Công-tử đó. Công-tử Quỹ cả sợ : Ta làm thế nào để thoát nạn nầy ? Công-tử Vận nói : Lỗ ân-công đã bất nhân thì Công-tử còn giữ nghĩa làm chi ? Vã lại, Tiên-vương đã có ý truyền ngôi lại cho Công-tử , thế thì Công-tử cũng nên tìm cách giết Lỗ ân-công đi, lấy ngôi lại, ấy là thuận theo ý của Tiên-vương đó . Công-tử Quỹ nói : Lỗ ân-công ở ngôi hơn mười một năm rồi, dân tình mến phục. Nếu việc không thành ắt ta mang họa lớn.
Công-tử Vận nói : Việc ấy chẳng khó gì , tôi có kế hay. Ngay mai Lỗ ân-công đi tế thần ở Chung-vu rồi về nghĩ nơi dinh Vi Ðại-phu. Vậy ta cho quân giáp-sĩ đến đó mai phục mà giết quách đi , rồi đổ cho Vĩ Ðại-phu mưu sát. Như thế ắt giử vẹn được tiếng tăm.
Công-tử Quỹ nghe lời, ủy-thác cho Công-tử Vận. Công-tử Vận dụng kế ấy giết Lỗ ân-công , tôn Công-tử Quỹ lên ngôi. Người trong nước đều hay việc ấy nhưng không dám nói, vì sợ oai-quyền của Vận . Hiện nay Công-tử Quỹ đã phong cho Vận làm chức Thái-tể.
Trịnh trang-công nghe xong, thở dài hỏi các quan :
– Như thế ta có nên cất quân phạt Lỗ để tỏ tình tâm-gia ngày trước chăng ?
Tề-túc tâu .
– Mặc dầu Công-tử Quỹ giết Lỗ ân-công là vô đạo song đó chỉ là việc gia đình. Chúng ta chỉ nên chờ xem thái-độ của Lỗ đối với Trịnh như thế nào đã. Tôi chắc Lỗ sẽ cho người sang nước ta gây tình hòa-hảo.
Trong lúc đang bàn bạc, thì có sứ nước Lỗ mang lễ vật sang xin vào yết-kiến Trịnh trang-công tỏ tình giao-kết.
Trịnh trang-công tiếp sứ rất trọng-hậu, và hẹn gặp nhau tại Việt-địa để phó-hội, tháp huyết ăn thề.
Từ ấy hai nước Trịnh và Lỗ lại rất thân mật.
Vào năm thứ chín, đời vua Hoàn-vương nhà Châu Công-tử Bằng đang ẩn náu trên đất Trịnh, thì bỗng có sứ nước Tống rước về nối ngôi.
Trịnh trang-công hay tin ấy, lòng nghi ngại, nói :
– Chưa biết hư thực như thế nào, sợ e Tống tương-công cho người sang đánh lừa Công-tử Bằng về mà giết đi chăng ?
Tề-Túc tâu :
– Tâu Chúa-công, việc nầy phải chờ đợi quốc-thư nước Tống gởi sang đây mới định đoạt được.

Hồi 8
Mưu sâu, Hoa-đốc phế vua Tống
Làm cao, Trịnh-hốt chê vợ Tề

Tống tương-công lên ngôi đã lâu, nhưng vì công-tử Bằng còn ở Trịnh, nên thỉnh thoảng đem binh sang đánh Trịnh làm cho hao người tốn của, dân gian khổ cực.
Quan Thái-tể nước Tống là Hoa-đốc, bạn thân của Công-tử Bằng tuy ngoài miệng không dám can vua, nhưng trong lòng bất-mãn , thấy Không phủ-gia làm đến chức Tư-mã , binh quyền một tay quản-thủ, nói gì Tống tương-công cũng nghe theo nên đem lòng ghen ghét .
Nhơn lúc Khổng phụ-gia đi đánh nước Sái, bị thua to trốn chạy về Hoa-đốc bèn cho kẻ tâm-phúc len-lỏi trong dân-chúng phao tin rằng Khổng phụ-gia chuyên quyền, ép vua gây binh-biến, gieo khổ nhọc cho nhân-đân.
Do đó, dân chúng rất ghét Khổng phụ-gia.
Hoa-đốc lại nghe tin đồn nàng Ngụy-thị, ái thiếp của Khổng phụ-gia, nhan sắc tuyệt vời, nên lòng rạo rực, muốn được trông thấy nét hoa.
Một hôm, vào tiết thanh-minh Ngụy-thị đi tảo mộ, Hoa-đốc tình cờ trông thấy, lòng mê-mẩn, chân bước không đành, nghĩ thầm :
– Người đâu mà đẹp đến thế ? Tiếng người đồn thực chẳng sai.
Từ đó Hoa-đốc đem lòng bất chánh, mơ ước lấy vợ người làm vợ mình. Và quyết không để nàng ở mãi trong tay Khổng phụ-gia.
Một hôm Khổng phụ-gia đi duyệt binh .
Hoa-đốc cho người tâm phúc lén trà trộn trong quân-sĩ phao tin rằng :
– Khổng phụ-gia sắp đem binh đi đánh Trịnh .
Quân-sĩ nhớ đến cảnh lửa-binh tang-tóc ai nấy đều sợ sệt, rũ nhau đến dinh Hoa-đốc kêu nài, yêu cầu tâu với vua bãi việc chiến-chinh.
Hoa-đốc cho người ra phủ-dụ bắt quân-sĩ trở về, nhưng quân sĩ tập họp mỗi lúc một đông hơn .
Có người mang cả khí-giới đến nữa.
Lúc bấy giờ, Hoa-đốc biết lòng dân đã muốn bạo-động , liền mặc áo giáp mang gươm ra cửa nói :
– Khổng phụ-gia cậy quyền ép Chúa-công gây việc binh đao, làm cho quân-sĩ chết oan, dân tình điêu-đứng. Trước hoàn-cảnh nầy tôi rất đau lòng nhưng không làm thể nào ngăn cản được.
Quân-sĩ ai nấy đều hậm-hực vô cùng.
Hoa-đốc lại giả cách khuyên :
– Thôi các ngươi nên trở về kéo Chúa-công hay được việc nấy , tội ta không tránh khỏi .
Quân sĩ nhao nhao lên nói :
– Thưa ngài, mấy năm chinh-chiến anh em họ hàng chúng tôi đã chết rất nhiều . Thế mà hiện giờ chúng tôi vẫn còn phải đem thân đi chết nữa . Vậy chúng tôi xin theo ngài giết tên giặc nước ấy đi , dẫu có chết cũng được thỏa lòng hơn.
Hoa-đốc lại nói :
– Muốn ném chết một con chuột, chúng ta phải kiêng tránh những vật báu của ta chứ . Nay Khổng phụ-gia là tôi thương yêu của Chúa-công, thì dẫu tàn ác thế nào cũng không nên giết .
Quân-sĩ nói lớn :
– Xin ngài hãy đứng ra trừ luôn đứa hôn-quân vô-đạo để chúng tôi nguyện theo ngài cả.
Nói xong quân sĩ xúm nhau kéo Hoa-đốc lên xe, tiến đến dinh Khổng phụ-gia, vây kín bốn bề .
Lúc bấy giờ trời đã tối xẩm, Khổng phụ-gia đang ngồi uống rượu trong tư-trang , bỗng nghe tiếng gõ cửa, liền sai người bước ra hỏi .
Hoa-đốc không đáp, xô cửa bước vào .
Quân sĩ cũng nồi đuôi nhau, ồ-ạt kéo vào một lượt.
Khổng phụ-gia thất kinh, vừa muốn chạy ra, thì Hoa-đốc đã nhẩy xổ đến, hét lớn :
– Ðể làm gì thằng giặc hại dân hại nước đó !
Khổng phụ-gia chưa kịp trả lời thì đầu đã rơi xuống đất.
Hoa-Ðốc lập tức cho người vào trong bắt Ngụy-thị đem ra, giấu vào xe chở về nhà .
Nhưng nữa đường, Ngụy-thị mở dây lưng, thắt cổ tự-vận.
Hoa Ðốc về đến nhà, thấy nàng đã tắt thờ, lòng thương tiếc chẳng cùng , sai người đem chôn, và giấu kín không để ai biết.
Còn quân-sĩ, đua nhau cướp phá dinh Khổng phụ-gia tan tành.
Khổng phụ-gia chỉ có một người con tên Mộc kim-phủ, tuổi còn nhỏ, được người nhà lén đưa sang nước Lỗ, tị nạn.
Tống tương-công hay được tin Hoa-đốc khởi loạn, giết Khổng phụ-gia , nổi giận sai người dời Hoa-đốc đến để trị tội.
Hoa-đốc cáo bịnh không đến.
Tống tương-công bèn thân hành đến nhà.
Hoa-đốc hay tin cả sợ, họp quân sĩ, nói :
– Nay Khổng phụ-gia bị giết, ắt Chúa-công không để chúng ta sổng yên. Trước kia Lỗ mục-Công bỏ con mà truyền ngôi cho cháu, đáng lẽ Chúa-công mang ơn, lại còn nhiều phen đem quân đánh Trịnh để bắt Công-tử Bằng , như thế thực là bất nghĩa. Nay chúng ta nên phế vua, mà lập Công-tử Bằng lên kế vị, thì thật là hợp lẽ.
Quân-sĩ la ó :
– Ngài dạy như thế là phải lắm. Chúng tôi xin tuân theo.
Quân-sĩ tự-động chia nhau mai-phục quanh nhà.
Khi Tống tương-công đến, họ ó lên một tiếng, rồi áp lại một lượt , gươm giáo sáng lòa.
Ðoàn ngự-lâm quân bỏ chạy tán-loạn, còn Tống tương-công bị chết giữa đám loạn quân.
Hoa-đốc liền mặc tang phục giả vờ ôm tử-thi vua khóc lóc , nỗi trống lên, hiệp cùng các quan thương-nghị.
Ðể che mắt mọi người, Hoa-Ðốc còn bắt mấy tên quân đã thí vua dẫn ra pháp-trường xử trảm.
Khi các quan văn võ, tề tựu đũ mặt, Hoa-đốc nói :
– Lòng dân vẫn còn mến ân-huệ của Tuyên-công thuở xưa lên muốn đón Công-tử Bằng về nối ngôi, chẳng biết các quan định lẻ nào ?
Các quan ai nấy đều sợ sệt, vâng dạ cho qua chuyện.
Hoa-đốc mới cho sứ-giả sang Trịnh báo tang Tống tương-công, và đón Công-tử Bằng về nước.
Lại đem rất nhiều vàng bạc, châu báu tạ ơn nước Trịnh .
Trịnh trang-công nhận được thư, biết được tự sự, bèn đưa Công-tử Bằng về Tống.
Công-tử Bằng sụp lạy, nói :
– Tôi được sống sót đến ngày nay là nhờ ơn Chúa-công. Nay lại đuợc về nước phục-nghiệp , nguyện suốt đời chẳng dám quên ơn nước Trịnh.
Lời nói ấy làm cho Trịnh trang-công cảm động đến ứa nước mắt, cầm tay Công-tử Bằng giã biệt.
Công-tử Bằng về nước , được Hoa-đốc tôn lên ngôi tức là Tống trang-công.
Các nước láng-giềng được sứ nước Tống đem lễ vật đến cầu thân, nên đồng hẹn nhau họp mặt tại đất Tắc , để chứng kiến lễ đăng-quan tức vị của Công-tử Bằng.
Vua Tề hi-công, sau khi dự hội ở đất Tắc, về nữa đường nghe tin quân Bắc-nhung đo tướng Ðại-lương làm Nguyên-soái, đem một vạn binh sang đánh Tề. Các đất Chúc-an và Lịch-hạ đã bị phá vỡ. Quan trấn-thủ hai xứ ấy đều bại binh.
Tề hi-công nói với các quan hầu cận :
– Giặc Bắc-nhung đã nhiều phen quấy rối nước ta. Nay lại đem đại binh xâm chiếm bờ cõi, nếu chẳng ra oai đánh một trận, không thể nào làm cho chúng sợ được.
Nói rồi bèn viết thư, mượn binh ba nước Lỗ, Vệ và Trịnh, lại tự mình cầm binh kéo về Lịch-hạ chống giữ.
Trịnh trang-công tiếp được tin ấy, vội vàng gọi Thế-tử Hốt đến bảo :
– Tề cùng Trịnh kết thân rất hậu, nay Tề có việc ta phải hết lòng giúp đỡ.
Nói rồi khiến Thế-tử Hốt làm Ðại-tướng, Cao cừ-di làm Phó-tướng kéo quân sang Tề.
Lúc đó, Vệ và Lỗ chưa đến.
Tề hi-công mở tiệc tiếp đãi.
Thế-tử Hốt thưa :
– Ta nên cho binh phục khắp nơi, rồi cho một toán quân ra dụ địch, chờ cho quân địch lọt vào ổ phục-kích, ta sẽ tràn ra mà tiêu diệt, như thế chắc được trọn thắng.
Tề hi-công khen phải, liền hiệp với binh nước Trịnh, cho Công tôn Nguyên phục nơi phía Ðông, còn Công-tử Sái-trọng thì dẫn một đạo quân ra khiêu chiến.
Vừa thoáng thấy quân Tề kéo đến, quân Bắc-nhung liền sai phó-tướng Tiêu-nhung ra nghênh chiến.
Hai bên đánh nhau được hai mươi hiệp, Sái-trọng giả thua bỏ chạy.
Tiêu-lương rượt theo.
Sái Lương thấy vậv cũng xua quân tràn tới .
Khi đuổi tới cửa Ðông, bỗng nghe một tiếng súng nổ ầm lên , chuông trống khua rền, hai bên quân phục nỗi dậy đông như kiến cỏ .
Tiêu-lương biết trúng kế, vội lui binh chạy về, nhưng bị quân của Sái Lương đàng sau tràn tới, hai bên đụng dồn lại , xô đẩy lẫn nhau, không biết đường nào mà chạy.
Hai tướng Sái-trọng và Công tôn-Nguyên hợp lại đánh nhầu, quân Bắc-nhung cả loạn, chết vô số .
Bao nhiêu tàn quân bỏ chạy đến núi Thước-sơn. thì lại gặp đạo binh của Phó-tướng Cao cừ-di đón đánh.
Sái-lương và Tiêu-Lương bỏ cả quân lính chạy thoát thân.
Nhưng mới vừa chạy được vài dặm, gặp đạo quân của Thế-tử Hốt đón lại, đánh thôi manh giáp tơi bời.
Tiêu-lương bị Chúc-đạm bắn chết, còn Sái-lương bị Thế-tử Hốt chặt đầu đem về nạp cho Tề hi-công.
Tề hi-công rất mừng, nói :
– Nếu không nhờ tài trí và sức anh-dũng của Thế-tử thì đâu thắng được giặc Bắc-nhung một cách vẻ-vang như vậy.
Thế-tử Hốt thưa :
– Nhờ oai của Chúa-công nên tôi mới thắng địch-quân được dễ đàng. Nhưng đó chỉ là việc nhỏ , đâu có công cán gì, xin Chúa-công chớ dạy quá lời.
Tề hi-công liền sai sứ sang Lỗ và Vệ thôi việc mượn binh , rồi mở tiệc khao thưởng quân sĩ và đải đằng Thế-tử Hốt.
Trong tiệc, Tề hi-công nhắc lại cuộc hôn nhơn con gái mình với Thế-tử Hốt ngày trước
Thế-tử Hốt một mực từ chối, làm cho Tề hi-công lòng áy náy không an .
Mãn tiệc Tề hi-công bảo Di trọng-niên đến nói riêng với Cao cừ-di rằng :
– Chúa-công tôi vì mến tài Thế-tử nên có ý cầu thân. Việc ấy trước kia đã định, nhưng hôm nay Thế-tử vẫn từ chối, chẳng biết Thế-tử có ý chi chăng ? Nếu ngài lo hộ việc nầy , Chúa-công tôi xin biếu cho ngài hai viên bích-ngọc, và một trăm nén vàng.
Cao cừ-di nghe nói vội vã đến tìm Thế-tử Hốt nói :
– Tề hi-Công có lòng tốt yêu mến Thế-tử, muốn cầu thân, nếu Thế-tử nhận lời thì sau nầy có thêm được nước lớn giúp đỡ, điều đó rất có lợi.
Thế-tử Hốt đáp :
– Ngày trước ta chưa có công trạng chi đối với Tề, mà còn từ chối thay. Huống hồ nay ta phụng mệnh phụ thân đem binh giúp Tề, vừa thắng trận lại nói đến chuyện hôn-nhân, e thiên-hạ chê ta là kẻ lợi-dụng.
Cao từ-di nói mãi không được .
Tề hi-công lại sai Di trung Niên thân-hành đến gặp Thế-tử Hốt bày tỏ cạn nỗi niềm.
Nhưng Thế-tử Hốt viện cớ chưa được lệnh phụ-thân, không dám nhận lời .
Ðoạn cáo từ đem quân về nước.
Thái-độ của Thế-tử Hốt làm cho Tề hi-công phật-ý trách thầm :
– Bởi muốn gây tình thân-thiện với nhau nên phải chiều ý thế thôi , chứ con gái ta sắc đẹp tuyệt vời, lo chi không lấy được người chồng xứng đáng.
Thế-tử Hốt về nước, thuật lại câu chuyện ấy cho Trịnh trang-Công.
Trịnh trang-công nói :
– Con đã có công-nghiệp lớn thì lo gì không có vợ đẹp.
Tề-Túc nghe được việc ấy, gọi riêng Cao cừ-di ra ngoài nói :
– Chúa-công đông con, Công-tử Ðột, Công-tử Nghi, Công-tử Vĩ đều có ý tranh ngôi. Nay Thế-tử Hốt lại không chịu kết-thân với Tề để thêm vi-cánh thì thật là việc đáng tiếc.
Cao cừ-di nói :
– Tôi đã hết lời khuyên Thế-tử, nhưng Thế-tử không nghe thì biết làm sao .
Hai người nhìn nhau, mỗi người riêng một ý.
Cao cừ-di trước đây rất thân mật với Công-tử Vĩ, nay nghe Tề-Túc nói lại càng thân mật thêm.
Một hôm, Thế-tử Hốt nói với Trịnh trang-công :
– Cao cừ-di và Công-tử Vĩ chơi với nhau rất thân, lại tư-thông nhiều việc, xin phụ-vuơng phải đề phòng cho lắm mới được.
Trịnh trang-công nghe nói nổi giận đòi Cao cừ-di đến mắng .
Cao cừ-di buồn lòng đem việc ấy nói lại với Công-tử Vĩ.
Công-tử Vĩ nói :
– Trước kia, phụ-vương ta định dùng ngươi làm Ðại-phu nhưng vì Thế-tử Hốt ngăn cản, nay lại còn cấm hai ta không được thân nhau nữa. Nếu một mai phụ-vương ta băng hà, chúng ta làm sao an toàn nổi.
Cao cừ-di nói :
– Thế-tử là người nhu-nhược, không thể làm hại ai nổi, xin Công-tử chớ lo.
Từ ấy, Cao cừ-di và Công-tử Vĩ âm-thầm oán ghét Thế-tử Hốt vô cùng.
Tế-Túc thấy thế lòng lo ngại, một hôm bàn với Thế-tử Hốt :
– Nếu Thế-tử không kết-thân với Tề thì cũng nên kết thân với Trần hoặc Vệ, để sau nầy nương-tựa, dùng làm ngoại viện.
Thế-tử Hốt suy tính mấy hôm, cuối cùng cho lời ấy là phải, bèn nhờ Tế-Túc tâu với Trịnh trang-công cho sứ sang nước Trần cầu hôn.
Sau đó Thế-tử Hốt lấy nàng Vĩ-thị làm vợ.
Giữa lúc đó, vua Hoàn-công nước Lỗ cũng kết thân với Tề.

Xem tiếp Hồi 9-12 | HOME | Back to Top