Hồi 13 – 16

Hồi 13
Lỗ-hầu cùng vợ sang Tề
Trịnh-vĩ , chúa tôi bị giết

Tề tương-công thấy sứ Trịnh là Tế-Túc đem lễ vật đến rất nhiều, nên tiếp đón niềm-nở. Kế nghe việc Cao cừ-di giết Trịnh chiêu-Công lập Công-tử Vỉ , cả giận muốn hưng binh vấn tội. Nhưng lại có tin vợ chồng Lỗ hoàn-công đã sắp đến nước Tề.
Tề tương-công liền gác chuyện đánh Trịnh, thân hành qua sông Lạc-thuỷ đón tiếp.
Nguyên nàng Văn-khương nghe sứ Tề sang mời Lỗ hoàn-công, sực nhớ đến anh, nên xin với Lỗ hoàn-công cho đi theo về thăm quê quán, Lỗ hoàn-Công vốn chiều vợ nên nhận lời.
Khi đến sông Lạc-thuỷ, vợ chồng Lỗ hoàn-Công đã thấy Tề tương-công đón sẵn.
Hai bên tay bắt mặt mừng cùng nhau trở về Kinh-đô Lâm-tri .
Lỗ-hầu đặt bày chiếu mạng vua Châu , nghị việc hôn nhơn.
Tề hầu cảm động bày tiệc đãi đằng rất trọng hậu.
Tiệc mãn Tề tương-công xin phép Lỗ hoàn-công đưa nàng Văn-Khương vào cung để thăm viếng các cung phi.
Lỗ hoàn-công thuận ý Tề tương-công dẫn Văn-khương vào trong một phòng kín đã sắp đặt sẵn , hai anh em uống rượu vui vầy rồi bày cuộc gió mưa .
Người sau có bài thơ cười Tề tương-công như vầy :
Khéo vẻ làm chi cái giống hề
Hôn quân dâm loạn nghỉ mà ghê
Gái xinh thiên-hạ, đời không thiếu
Mà lấy em mình chịu tiếng chê !
Sáng hôm sau mặt trời đã cao, mà hai người vẫn còn ôm nhau nằm ngũ mãi.
Lỗ hoàn-công ở ngoài đợi lâu quá, sanh buồn, lại có ý nghi hoặc vợ mình, chẳng biết bên trong cánh cửa cung thăm thẳm ấy có việc gì rối lòng chăng ?
Mà dù có nghi hoặc cũng không làm sao hiểu thấu, khi mà tường cao vòi vọi, bức rèm châu đã khép cánh song thưa. Tuy-nhiên, lòng thấy nao nao không thể nào chịu được .
Lỗ hoàn-Công bèn cho người dò xét mới hay Tề tương-công chưa có Chánh phi, chỉ có Thứ-phi là Liên-thị em họ của quan Đại-phu Liên-xứng, mà Tề tương-công đã ghét bỏ từ lâu rồi.
Lại nghe nói đêm vừa rồi , chỉ có anh em Tề tương-công tư tình chứ không có phi tần nào cả.
Lỗ hoàn-công uất hận vô cùng, bỏ ra ngoài thơ thẩn nơi hiên Tây , bỗng gặp Văn-khương từ đàng xa lểnh-mểnh đi đến.
Lỗ hoàn-Công đưa mắt nhìn từ đầu đến chân, rồi nói :
– Đêm hôm ái-khanh uống rượu với ai ?
Văn-khương nũng-nịu đáp :
– Thần thiếp vui vầy với Liên-thị.
Lỗ hoàn-công hỏi :
– Vui đến bao lâu mới hết ?
Văn Chương đáp :
– Đã lâu quá chưa gặp nhau, nên vui mãi cho đến lúc trăng lên đỉnh đầu mới thôi.
– Anh của phu nhân có đến đó dự tiệc chăng ?
– Không, anh tôi đâu có lại đó dự tiệc ?
– Chẳng lẽ anh em lâu ngày xa cách lại không cùng nhau uống một chén rượu cho vui sao ?
Văn-khương có vẻ lưỡng-lự, đáp :
– Lúc mãn tiệc, anh tôi có đến uống một chun rượu rồi đi ngay.
Xét thấy lời nói và thái độ Văn-khương có điều uẩn-khúc .
Lỗ hoàn-công lại càng nghi ngờ nói :
– Tiệc mãn sao ái-khanh không ra ngay còn ở trong đó làm gì ?
– Vì đêm khuya quá, thần thiếp thấy ra ngoài bất tiện.
– Thế thì ái-khanh đã ngủ lại nơi đâu ?
– Trong cung thiếu gì nơi nghỉ ngơi , sao quân hầu lại hỏi lẩn-thẩn như thế ?
– Tại sao ái-khanh lại dậy trưa ?
– Vì uống rượu quá say nên mệt mỏi, không thể dậy sớm nỗi .
– Ái khanh ngũ chung với ai ?
– Thần thiếp ngủ chung với mấy người cung nhân nơi Tây cung.
– Còn anh của ái-khanh ngủ ở đâu ?
Văn-khương sợ sệt, làm ra mặt giận đáp :
– Anh ngủ ở đâu làm sao em gái biết mà nói rõ được !
Lỗ hoàn-công cũng giận dữ nói :
– Thế mà ta biết anh của ái-khanh đã ngủ đâu và ngủ với ai rồi ? Ái khanh đừng có giấu diếm làm gì.
Văn-Chương hổ thẹn, khóc oà.
Lỗ hoàn-công lòng đầy hậm hực nhưng biết mình đang ở trên đất Tề khó lòng nói năng được , nên vào từ giã Tề tương-công về nước.
Tề tương-công nghỉ lại việc xấu của mình lấy làm hối-hận, sợ Lỗ hoàn-công hay được, nên sai người tâm phúc là Thạch-chi Phân-Như theo dõi .
Phân-như trở về kể lại những lời cãi vã vừa rồi của vợ chồng Lỗ hoàn-công cho Tề tương-công nghe.
Tề tương-công bối-rối, nói :
– Ta không ngờ Lỗ-hầu lại có thể biết được việc ấy. Như thiên hạ hay được thì việc cầu hôn của ta với vua nhà Châu ắt bại sự .
Bèn khiến Phân-như đòi Công-tử Bành-sinh đến dạy việc.
Công-tử Bành-sinh vào chầu, Tề tương-công nói:
– Nay ta muốn lập kế giết Lỗ-hầu, chẳng hay khanh có bằng lòng giúp sức chăng ?
Bành-sinh ngạc-nhiên hỏi :
– Lỗ-hầu đến đây để làm chủ hôn cho Chúa-công, sao Chúa-công lại có ý ấy ?
– Tề tương-công cực chẳng đã phải đem câu chuyện mình thố lộ cho Bành Sinh biết.
Tuy không bằng lòng hành-động của Tề tương-công, song Bành-sinh có cựu thù với Lỗ trong lúc đánh nước Kỹ, bị Lỗ bắn trúng tim gần chết, nên nhận lời.
Tề tương-công cả mừng, đặt tiệc nơi quán địch sai người mời Lỗ hoàn-công đến dự trước khi về nước.
Tề tương Công tiếp đãi rất ân-cần, nhưng Lỗ hoàn-công mặt dàu dàu, ngồi gục đầu xuống đất, không nói năng gì cả.
– Tề tương-công truyền cho bọn cung-nga mỹ-nữ rất đẹp, ca múa và dâng rượu.
Lỗ hoàn-công nhân lúc đau đớn trong lòng cũng muốn dùng rượu để khuây khoả, nên lần uống hết.
Đến lúc quá say, Lỗ hoàn-công không còn biết gì nữa, nằm gục trên ngự-ỷ .
Tề tương-công liền sai Công-tử Bành-sinh phò Lỗ hoàn-công lên xe, về sứ quán.
Bành-sinh ngồi bên cạnh, khi ra khỏi quốc môn vài dặm thấy Lỗ-hầu ngủ say .
Bành-sinh cho hai ngón tay vào cạnh sườn, bóp rất mạnh.
Lỗ hoàn-công bị gãy xương sườn, la lên một tiếng rồi hộc máu chết tươi.
Bành-sinh mới hô-hoán rằng Lỗ-hầu bị say rượu nên cảm gió mà chết.
Tề hi-công hay tin, giả cách khóc lóc thảm thương , cho người tẩn liệm theo vương lễ, rồi tin về nước Lỗ.
Quân sĩ đi theo Lỗ hoàn-công trở về thuật lại chuyện vua nước Lỗ bị chết trên xe.
Quan Đại-phu Thân-nhu nói :
– Trong nước không nên để một ngày không có vua.
Công-tử Khánh-phủ nói :
– Tề-hầu vô đạo, loạn luân làm hại tính mệnh phụ-thân tôi, vậy để tôi cử đại binh sang vấn tội mà báo thù.
Thi-bá can rằng :
– Việc nầy còn ám muội, vả lại nước ta yếu, nước Tề mạnh, vị tất đã trả được thù mà còn bươi tiếng xấu. Chi bằng viết thư sang Tề buộc Tề-hầu giết Bành-sinh đi. Nếu tướng Bành-sinh chết sau nầy ta tính chuyện báo thù rất dễ.
Thân-nhu nói lại với Công-tử Khánh-phủ rồi sai Thi-bá viết thư đưa qua Tề.
Lúc đó Thế-tử Đồng đang cư-tang không ký tên, nên Thân-nhu đứng thay.
Thư ấy như sau :
Ngoại thần Thân-nhu kính gởi Tề-hầu ngự lãm. Chúa tôi vâng mệnh Thiên-tử qua quí-quốc để bàn định việc hôn nhân không biết lâm bịnh thế nào mà chết trên xe. Đường xa cách trở , lại nghe thiên-hạ đồn nhiều tiếng xấu, nước tôi thật lấy làm hổ thẹn. Nếu muốn giữ tiếng tăm, xin hiền hầu hãy bắt Bành-sinh mà trị tội , nước tôi lấy làm may mắn.
Tề tương-công được thư, cho người gọi Bành-sinh đến.
Bành-Sinh cậy mình có công, ngang nhiên bước vào.
Sứ nước Lỗ cũng có nặt nơi đấy.
Tề tương-công làm mặt giận quở trách :
-Ta thấy Lỗ-hầu quá say nên sai ngươi phò tá, ngươi lại không giữ gìn để Lỗ-hầu phải chết như vậy tội thật đáng chém.
Nói xong hô vô sĩ trói lại, dẫn ra chợ mà gia-hình.
Bành-sinh uất hận hét lớn :
– Hôn quân ! Đã dâm loạn với em gái mình, lập mưu giết Lỗ- hầu, lại còn đổ lỗi cho ta sao ? Dầu có chết, ta quyết làm quỉ , mà banh thây ngươi ra muôn mảnh !
Tề tương-công ngồi chết điếng.
Cả quân sĩ và triều thần ai nấy đều bụm miệng, nín cười.
Cách đó không lâu , Tề tương-công vào triều Châu xin cưới nàng Vương-cơ và làm ma chay , đưa linh cửu Lỗ hoàn-công về nước .
Còn nàng Văn-khương vì hổ thẹn, ở luôn bên nước Tề không về nước Lỗ .
Lễ an táng vua Lỗ xong .
Thế-tử Đồng lên nối ngôi, tức là Lỗ trang-công.
Ngày Lỗ trang-công tức-vị, các quan đều chầu chực đủ mặt .
Lỗ trang-công hỏi :
– Phụ-thân ta trước kia vâng mệnh Thiên-tử đứng chủ hôn cho Tề tương-công, nay công việc chưa thành mà tạ thế. Vậy chư khanh có ý chi chăng ?
Thi-bá nói :
– Nước ta hiện có ba điều nhục. Điều thứ nhất là Tiên-công ta dẫu đã an táng nhưng tiếng xấu vẫn còn. Điều thứ hai là Quốc-mẫu hiện nay lưu lại bên nước Tề, thiên hạ dị-nghị . Điều thứ ba là nước ta có tang, không làm được trọng trách của Thiên-tử đã uỷ thác.
Lỗ trang-công nghe nói buồn bã hỏi :
– Ba điều nhục ấy có cách nào rửa được chăng ?
Thi-bá nói :
– Điêu thứ nhất muốn cho Tiên-công dưới suối vàng được hài lòng thì phải làm cho danh tiết của Tiên-công được vẻ-vang. Trước kia Tiên-công lên ngôi chưa đặng vương-mạng, bây giờ cũng nên nhân dịp chủ-hôn mà xin vương-mạng cho Tiên-công. Điều thứ hai nên rước quốc-mẫu về mà phụng-dưỡng . Điều thứ ba là việc chủ-hôn thực khó lưỡng-toàn. Nay phải cất một nhà quán địch nơi ngoài đồng rồi rước Công-chúa Vương-cơ đến nhà ấy mà đưa sang Tề .
Chúa-công cáo tang không đến. Làm như vậy, trên không nghịch chỉ vua, dưới không mích lòng các chư-hầu, mà cũng hợp với vương lễ nữa.
Lỗ trang-công khen lời của Thi-bá rất phải liền sai quan Đại-phu Chuyên tôn-sính sang triều Châu đón Công-chúa Vương-cơ, và luôn tiện xin vua Châu phong cho Lỗ hoàn-công.
Vua nhà Châu chuẩn tấu, bèn sai sứ qua nước Lỗ để ban áo mão cho Lỗ hoàn-công.
Châu-công Hắc-kiên lãnh mạng xin đi.
Châu trang-vương không đồng ý, sai quan Đại-phu Vinh-Thúc qua Lỗ.
Sở dĩ Châu trang-vương không muốn Châu-công Hắc-kiên ra ngoài nước là vì Châu trang-vương có một người em tên Vương tử-khắc, trước kia Châu hườn-vương còn sống có lời phú-thác cho Châu-công Hắc-kiên, nay sợ Châu-công Hắc-kiên liên kết với các ngoại-bang tạo nên vây cánh .
Hắc-kiên thấy Châu trang-vương không muốn cho mình đi sứ , hiểu ngay nội-ý, đêm ấy qua dinh Vương tử-khắc kể tỏ sự tình.
Vương tử-khắc nói :
– Đã bị nghi ngờ thì làm cách nào thoát khỏi tai nạn ?
Châu-công Hắc-kiên nói :
– Nếu đã bị vua nghi ngờ thì tai nạn không tránh khỏi, chỉ có cách sớm liệu là hơn.
Đoạn Hắc-kiên bàn mưu , nhân đám cưới của Vương-Cơ mà nổi loạn, cướp ngôi Châu trang-vương.
Quan Đại-phu Tần-Bá biết được liền đem thuật lại với Châu trang-vương.
Châu trang-vương nổi giận bắt Châu-công Hắc-kiên đem chém, và dẫn quân bao vây tư dinh bắt Vương tử-khắc.
Nhưng Vương tử-khắc hay tin trốn qua nước Yên tị nạn.
Quan Đại-phu Chuyên tôn-Sính được phụng mạng đưa Công-chúa Vương-cơ sang Tề, rồi lại được Lỗ trang-công ủy-nhiệm rước nàng Văn-khương về Lỗ.
Tề tương-công bịn rịn không nỡ để nàng Văn-khương trở về nhưng vì sợ dư-luận thành thử cuối cùng phải gạt lệ chia ly.
Văn Chương buồn tủi lên đường, lòng đầy hổ thẹn.
Khi qua đến đất Chướng, nơi biên giới Tề-Lỗ, thấy phong cảnh tốt tươi, muôn hoa tươi đẹp, Văn-khương nghĩ thầm :
-Đã trót lầm lỗi, nay về Lỗ làm gì . Đất nầy không thuộc Lỗ, cũng không phải Tề thế thì ta ở đây mà dung thân cho an phận.
Nghĩ rồi cho bọn tùy tùng về tâu lại với vua Lỗ rằng :
– Gái góa bụa nầy muốn tìm chỗ thanh tịnh ở cho an nhàn . Lúc nào sắp chết mới về cung. Bọn tùy tùng trở về tâu lại.
Lỗ trang-công biết mẹ mình hỗ thẹn mà không về nước nên khiến cất một nhà quán nơi Chức-khâu để Văn-khương yên trú.
Từ đó, Văn-khương vui với phong cảnh mà khuây khỏa mảnh hồng-nhan.
Nhắc qua Tề tương-công từ khi âm-mưu giết Lỗ hoàn-Công, người trong nước đều cho là vô đạo, tiếng xấu đồn khắp xa gần . Nay tuy cưới được Công-chúa Vương-cơ đem về nhưng miệng đời vẫn chưa thôi mai mỉa. Muốn trấn áp lòng dân, Tề tương-công dự tính phải ra oai làm một vài việc đại nghĩa, để nâng phẩm giá của mình.
Tề tương-công nghĩ ngay đến nước Vệ và Trịnh, hai nước ấy có việc soán nghịch . Nhưng vua nước Vệ lại là phò mã của vua, chỉ có nước Trịnh là có thể đánh được, song chưa chắc đã thắng.
Tề tương-công nghĩ ngay một kế, sai sứ sang mời Trịnh-vĩ đến phó hội nơi đất Thủ-chỉ.
Công-tử Vĩ được lời mời có ý mừng thầm, nói :
-Tề-hầu chịu giao-hảo với ta thì cơ-nghiệp ta sẽ vững bền.
Bèn đòi Cao cừ-di và Tế-Túc , khiến theo bảo giá.
Tế-Túc cáo bịnh, từ chối.
Cao cừ-di phò Công-tử Vĩ lên xe, chúa tôi cùng khởi hành rất vui vẻ.
Tế-Túc ung dung trở về dinh, gặp Nguyên-phồn đón lại hỏi :
– Chúa-công sang phó hội với Tề, vì cớ gì ngài lại cáo bịnh mà không theo phò
Tế-Túc mỉm cười đáp :
– Vua Tề là một kẻ loạn-dâm, tàn bạo. Trước kia Tiên-công ta vì có công lớn nên Tề mới khâm phục mà giao hảo . Nay bỗng dưng mời Chúa-công đi phó hội, tôi e không khéo cả vua tôi đều bị giết.
Nguyên-phồn nghe nói trố mắt nhìn Tế-Túc hỏi :
– Ngài đoán thực như thế sao ?
Tế-Túc đáp :
– Việc đó xảy đến không bao lâu, ngài cứ chờ đợi kết quả sẽ rõ.
Nguyên-phồn hỏi :
– Nếu quả đúng như lời ngài thì nước Trịnh sẽ về tay ai ?
Tế-Túc nói :
– Tất nhiên sẽ về Công-tử Nghi. Công-tử Nghi là người quý-tướng, trước kia Tiên-công thường vẫn nói thế.
Nguyên-phồn nói :
– Người ta cho rằng ngài là một kẻ tiên tri , nếu việc nầy quả đúng như lời thì tôi mới tin .
Dự đoán của Tế-Túc quả không sai.
Trước ngày phó hội, Tề tương-công đã đem một trăm quân giáp-sĩ phục nơi nhà Công-quán, và hôm ấy truyền cho Thạch-chi, Phân-như đứng hầu một bên.
Công tử Vĩ và Cao cừ-di đến nơi bước vào yết kiến.
Vua Tề cầm tay Công-tử Vĩ nói :
– Hân hạnh được gặp ngài ! Đã từ lâu tôi muốn biết một điểu mà không sao biết được.
Công-tử Vĩ nói :
– Nay hiền-hầu có lòng tốt hạ cố đến tôi, nếu có điều gì xin hiền hầu cứ vui lòng chỉ giáo.
Tề tương-công nói :
– Tại sao ngày trước Trịnh chiêu-công bị chết Công-tử Vĩ nghe hỏi việc ấy, mồ hôi toát ướt áo, lúng túng không biết trả lời làm sao .
Cao cừ-di rước lời nói :
– Tiên quân tôi bị bịnh mà tạ thế. Nhưng vì cớ gì mà hiền-hầu lại thắc mắc ?
Tề tương-công nói :
– Ta nghĩ Trịnh chiêu-công bị giết tạ thế chứ đâu phải bị đau mà tạ thế .
Cao cừ-di liệu không thể giấu được bèn tìm lời bào chữa :
– Vâng một phần cũng vì Tiên-quân tôi có tâm bịnh nên khi thấy giặc thì sợ mà chết.
Tề tương-công cười lớn nói :
– Vua đi tất có phòng bị, sao lại để giặc giết được ?
Cao cừ-di đáp :
– Trong nước tôi có lắm phe đảng, thực khó mà đề phòng.
Tề tương-công nói :
-Vậy có bắt được tên giặc đã giết vua chăng ?
Cao cừ-di nói :
-Hiện nay nước tôi đang cho người lùng kiếm khắp nơi mà vẫn chưa bắt được.
Tề tương-công trợn mắt, chỉ vào mặt Cao Cừ-Di nói :
-Giặc chính là ngươi mà sao ngươi lại không biết ? Người chịu ơn vua lộc nước thế mà vì oán riêng dám thí vua, lại đem ba tắc lưỡi làm bức màn thưa để che thắt thiên hạ. Ta phải vì tiên-quân của ngươi mà bắt tên giặc ấy.
Nói rồi gọi Thạch-chi và Phân-như bắt Cao cừ-di trói lại.
Công-tử Vĩ thất kinh, sụp lạy, nói :
– Việc đó Cao cừ-di chủ mưu, xin hiền-hầu rộng-lượng.
Tề tương-công hét lớn :
– Đã giết anh cướp ngôi mà còn lắm lời xảo trá. Nếu có điều gì oan ức thì ngươi cứ xuống dưới âm phủ mà kêu nài.
Nói xong, truyền bọn giáp-sĩ bắt Công-tử Vĩ đem chém.
Cao cừ-di hoảng vía, lạy lúc mãi.
Tề tương-công nói :
– Chúa mi đã chết mà mi sống được sao ?
Nói rồi truyền đem Cao cừ-di ra cửa Nam cột tay chân vào bốn cỗ xe trâu, đánh trâu cho chạy bốn ngã.
Xác của Cao cừ-di bị xé ra làm bốn mảnh.
Đoạn Tề tương-công truyền chặt đầu Cao cừ-di treo lên cửa, thành, yết một tấm bãng lớn đề chữ như vầy : “Tấm gương của những kẻ làm tôi bất trung” .
Việc ấy xong, Tề tương-công sai người sang Trịnh nói cho biết là nước Tề đã trừ xong đứa phản nghịch, hãy đưa vua khác lên thay .
Nguyên-phồn hay được tin ấy tấm tắc khen thầm :
– Tế-Túc quả là một người sáng suốt ít ai bì kịp.
Các quan nước Trịnh họp nhau lại bàn việc lập vua mới.
Thúc-thiềm nói :
– Vua cũ là Trịnh lệ-công hiện nay đang ở nơi đất Lịch, ta nên rước về tôn lên ngôi.
Tế-Túc nói :
– Vua cũ đã bõ nước mà trốn đi thì không nên lập lại. Ta nên lập Công-tử Nghi mới phải lẽ.
Nguyên-phồn khen là hợp-lý.
Các quan cũng đồng thanh đưa Công-tử Nghi lên ngôi.
Tế-Túc vẫn giữ chức Thượng Đại-phu, Thúc-Thiềm làm Trung Đại-phu, còn Nguyên-phồn làm Hạ Đại-phu.
Việc triều chính giao cho Tế-Túc lo việc giao hảo với các nước Tề, Trần v.v… và sang cống nước Sở.
Còn Trịnh lệ-công vẫn phải chịu tá túc nơi cõi ngoài.

Hồi 14
Trái lệnh, Châu thiên-tử nổi xung
Gặp ma, Tề tương-công hoảng hốt

Công-chúa Vương-cơ từ lúc về với Tề tuyên-công lòng sầu khôn xiết . Vương-cơ vốn là một người thông-minh, tề-chỉnh nay gặp tánh nết Tề tương-công lòng đã bất bình, lại biết được câu chuyện nàng Văn-khương nên buồn bã mà thọ bệnh, chẳng bao lâu từ trần.
Từ ngày Vương-cơ thác rồi, Tề tương-công không còn kiêng nể ai nữa, hễ lúc nào nhớ Văn-khương thì giả đi săn bắn nơi đất Chước rồi sai người đến Chúc-khâu rước Văn-khương đến đó mà vui vầy . Tuy nhiên, lại sợ Lỗ trang-công hay được mà sanh sự, bèn lấy việc binh đao ra hăm dọa .
Tề tương-Công cất binh sang đánh nước Kỷ lấy ba thành ở đất Bình, đất Tư và đất Ngô, rồi kéo thẳng đến Hề-thành kêu Kỷ-hầu bảo rằng :
– Nếu muốn cho nước Kỷ còn , phải đầu hàng lập tức.
Ký-hầu đau đớn than thầm :
– Tề là một nước cựu thù, lẽ nào ta lại quên lấy thù mà cầu an sao !
Nghĩ rồi bèn khiến vợ là Bá-Cơ, con gái Lỗ huệ-công viết thư về nước cầu cứu viện binh.
Tề tương-công hay được tin ấy, dọa rằng :
– Nước nào đem binh cứu nước Kỷ, nước đó sẽ bị quân Tề kéo đến tàn phá ngay.
Lỗ-hầu nghe nói cũng sợ, cho sứ sang nước Trịnh yêu cầu nước Trịnh họp binh với mình cứu nước Kỷ.
Nhưng, Trịnh-nghi vì sợ Trịnh-đột đem binh từ đất Lịch về cướp ngôi nên từ chối việc hợp tác.
Lỗ trang-công thấy mình cô thế không dám xuất quân.
Còn vua nước Kỷ thấy không ai cứu viện, bèn giao quyền lại cho em là Doanh-quý, rồi bõ trốn ra nước ngoài .
Doanh-quý họp triều-thần bàn rằng :
– Bây giờ chỉ có hai việc, một là liều chết giữ nước, hai là đầu làng để bảo vệ sinh linh. Vậy ta nên theo đàng nào ?
Các quan đều nói :
– Nay nước Kỷ bị cô thế, dầu có hy sinh đến đâu, cuối cùng cũng chịu thảm bại chi bằng đầu hàng để cứu vớt mạng dân và giữ gìn tôn miếu của tiên-quân.
Doanh-quý theo lời, viết thư sai sứ dâng cho Tề tương-công, cùng nạp các sổ sách dinh điền , cầu xin đầu hàng.
Tề tương-công chấp thuận, cho Doanh-quý được thâu thuế ba mươi bộ trong nước để phụng thờ tôn miếu.
Vợ vua Kỷ là Bá-Cơ, buồn bã nhuốm bịnh rồi chết.
Tề tương-Công an-táng rất trọng thể, mục đích để mua lòng nước Lỗ.
Trong thời gian đó, tại nước Sỡ, vua Hùng-thông lên kế vị, tự xưng vương-hiệu là Sỡ võ-vương, trách Tùy không đến chầu mình nên cử binh sang đánh. Song đi mới nữa đường mang bịnh mà thác.
Quan Lịnh-doãn là Đấu-kỳ, Mạc-ngao và Khuất-trọng giấu nhem việc ấy không phát tang, kéo quân thẳng đến vây thành của Tùy.
Tùy hầu sợ sệt, xin cầu hòa .
Khuất-trọng thay mặt đứng ra làm lễ chiêu an rồi kéo binh về nước, tôn con Hùng-thông là Hùng-xi lên nối ngôi, lấy Vương-hiệu là Sở văn-vương.
Còn Tề tương-công sau khi thắng được nước Kỷ kéo quân về ngang đất Chúc-khâu, rước nàng Văn-khương qua đất Chước để vui câu tình tự. Nào tiệc nào tùng, đờn ca hát xướng vui say ngày đêm trong hoan-lạc .
Tề tương-công lại khiến Văn-khương viết thư mời Lỗ trang-công đến đó để phó hội.
Lỗ trang-công vốn sợ oai Tề, lại không dám trái lời mẹ, nên vội đến đất Chước mà ra mắt Văn-khương.
Văn-khương khiến Lỗ trang-công, theo lễ cậu cháu ra mắt Tề tương-công và tạ ơn Tề tương-công việc chôn cất Bá-Cơ.
Lỗ trang-công không vui, nhưng phải tuân lời mẹ.
Tề tương-công rất đẹp dạ , bày tiệc đãi đằng, say sưa tưởng như trời nghiêng đất ngửa .
Văn-khương nghe Tề tương-công mới sinh được một gái bèn nói với Lỗ trang-công :
– Con chưa định người nội-chủ , mà cậu con vừa sanh đặng một gái , mẹ tưởng đó cũng là dịp may, con nên đính ước đi .
Lỗ trang-công nhìn mẹ, ngơ ngác, nói :
– Con đã chừng nầy tuổi, còn con gái của cậu mới sanh, lẽ nào đính việc hôn nhân .
Văn-khương giận dữ nói :
– Con không muốn gần gũi với họ ngoại sao ?
Lỗ trang-công thưa :
– Thưa mẹ, con đâu có ý ấy , song tuổi tác cách biệt rất khó lòng làm cái chuyện đó được !
Văn-khương nói :
– Cứ đợi đến hai mươi năm nữa sẽ cưới không được sao ?
Lỗ trang-công nín lặng không dám cãi.
Tề tương-công cũng nễ lời , hai đàng cùng nhau uống ly rượu hứa hẹn cuộc hôn nhân ấy.
Đã cậu ruột mà lại là cha vợ nữa thì còn gì thân thiết bằng ! Có lẽ vì thế mà Tề và Lỗ càng thắt chặt mối dây thân mật hơn trước !
Ngày kia, Lỗ trang-công cùng Tề tương-công rủ nhau đi săn bắn.
Lỗ trang-công có tài thiện-xạ, bắn mười phát trúng cả mười, ai nầy đều khâm phục, riêng Tề tương-công lại càng đẹp lòng hơn.
Trong đám quân sĩ, ngoài những lời tấm tắc ngợi khen lại còn có cả lời châm biếm nữa.
Họ thì thào :
– Chàng rể hờ của Chúa-công ta đó.
Lỗ trang-công lấy làm hổ thẹn, truyền bắt những người đã thốt ra lời nói vô lễ ấy đem chém .
Nhưng Tề tương-Công vẫn thản-nhiên không trách cứ.
Từ ấy Văn-Khương không kiêng nể nữa, thường thường ở chung với Tề tương-Công, khi thì đất nhau ở đất Phong, khi thì gặp nhau nơi đất Cốc, có lúc lại về Tề-đô mà vui với Tề tương-công đến sáu bảy ngày liền rồi mới trở về đất Chước.
Một hôm Tề tương-công ở đất Chước về xảy thấy Vệ-Sóc ra đón tiếp và nhắc lại lời hứa trước kia .
Vệ-Sóc nói :
– Trước kia Chúa-công có hứa sẽ cử binh đánh Vệ giúp cho tôi phục-nghiệp , từ ấy đến nay việc chưa thành.
Tề tương-công nói :
– Sở dĩ ta chưa đánh Vệ vì Kiềm-mâu là phò-mã của vua Châu . Nay nàng Vương-cơ đã thác, ta không còn e ngại gì nữa. Tuy-nhiên muốn đánh Vệ , phải hiệp binh với chư hầu thì mới thắng nỗi. Cháu phải chờ đợi ít hôm đã.
Vệ-Sóc tạ ơn lui ra.
Cách vài ngày sau Tề tương-công làm một tờ hịch , sai sứ đểrr qua các nước Lỗ , Tống, Trần và Sái hẹn hợp binh đánh Vệ Kiềm-mâu để đưa Vệ-Sóc về nước phục nghiệp .
Tờ hịch như sau :
Nước Vệ không may bị bọn nghịch thần Tiết và Chức tác loạn , phế vua nầy, lập vua khác , Vệ huệ-công (Vệ-Sóc) phải bỏ chạy ẩn tránh nơi nước tôi đã bảy năm trời. Lẽ ra phải trừng phạt để bảo vệ công bình, song lâu nay nước tôi bận nhiều công việc chưa tính đặng. Lại nghĩ rằng để lâu ngày bất tiện, nên nay tôi nguyện đem hết binh lực nước Tề hiệp cùng quý-quốc giúp cho Vệ-Sóc hưng binh vấn tội kẻ tặc loàn. Được quý-quốc tưởng đến thật lấy làm may mắn.
Nhận được tờ hịch ấy bốn nước đều hưng binh.
Riêng Tề tương-công đem năm trăm cỗ xe, cùng với Vệ-Sóc kéo thẳng đến biên giới nước Vệ.
Vệ Kiềm-mâu hay tin, lòng lo lắng, cho đòi Công-tử Tiết và Công-tử Chức vào thương nghị .
Công-tử Chức nói :
– Nay binh năm nước đồng kéo binh đến một lượt, nước Vệ ta không tài nào đũ sức cản ngăn , xin Chúa-công cho người sang cầu cứu với vua nhà Châu mới được .
Vệ Kiềm-mâu y lời, viết tờ cáo-cấp sai quan Đại-phu Ninh-quý vào triều Châu cầu cứu.
Châu trang-vương xem văn biểu rồi hỏi các quan :
– Ai dám thay mặt trẫm đem binh cứu nước Vệ chăng ?
Châu-công Hắc-kiên quỳ tâu :
-Tâu Bệ-hạ, từ khi nhà Châu thua Trịnh, lòng quân giải-đải nay nếu đi chinh phạt e khó thắng. Vả lại, các chư hầu lấy cớ lập lại Chúa Trịnh là danh chánh ngôn thuận. Mà đã danh chánh ngôn thuận thì binh ắt mạnh, ta khó thắng nổi.
Quách-công Kỵ-Phủ cũng cho lời nói đó là phải.
Bỗng có một người bước ra tâu :
– Lời nói của hai ông không đúng. Nếu nói rằng binh các chư hầu mạnh hơn binh của triều thì có lý. Nhưng nếu cho việc lập Chúa Trịnh lại là danh chánh ngôn thuận thì thật quả đã lầm.
Các quan xem lại, người ấy là Tử Đột, đang làm chức Hạ-sĩ.
Châu-công Hắc-kiên quắc mắt nhìn Tử-đột, hỏi :
– Một nước chư-hầu bị tiếm ngôi , các nước khác đem binh tới cứu , thế mà không danh chánh ngôn thuận ư .
Tử-Đột nói :
– Việc lập Kiềm-mâu lên ngôi Trịnh đã có Vương-mạng thì sao gọi là tiếm-vị ? Vương-mạng mà không kể , lại lấy việc chư-hầu nầy lập chư-hầu kia mà cho là thuận sao ?
Quách-công Kỵ-Phủ nói :
– Đừng nói đến thuận nghịch gì cả , việc binh-gia phải căn-cứ vào sức mạnh. Cái mạnh bao giờ cũng có hễ lý mà có lý tức là lẻ phải rồi .
Tử-Đột nói :
– Lý lẽ và sức mạnh là hai việc khác nhau . Mạnh yếu là tại sức còn hơn thua là tại lý. Nếu bỏ lý mà vẫn nên việc ắt thiên hạ phải đảo-điên không còn một ai theo lẽ phải nữa.
Châu-công Hắc-kiên đỏ mặt nói :
– Ấy vậy nếu đem binh cứu Vệ, ngươi có dám gánh vác việc ấy chăng ?
Tử-Đột nói :
– Cứ lấy lý mà nói thì tôi sẽ thắng vì tôi sẽ đem lý lẽ của tôi mà khuyến dụ các chư-hầu. Một khi các chư-hầu đã nhìn nhận lẻ phải thì gươm giáo không còn là vật đáng sợ nữa.
Các quan nghe Tử-Đột lý lẽ như vậy ai nấy đều muốn thử-thách tài năng, nên tâu với vua cho phép Tử-đột được hưng binh cứu Vệ .
Châu trang-vương nhậm lời, khiến Ninh-quý về báo với Vệ-hầu trước.
Đoạn, truyền cho Quách-công Kỵ-Phủ phát cho Tử-Đột ba muôn binh ròng.
Châu-công Hắc-kiên đã có ý ghét Tử-Đột nên chỉ phát có hai trăm cỗ binh xa mà thôi.
Tử-Đột ngạc nhiên hỏi :
– Sao ngài lại phát quân cho tôi ít như vậy ?
Châu-công Hắc-Kiên nói :
– Nếu ngươi dùng sức mạnh mà thắng giặc thì ta sẽ phát binh nhiều, nhưng nay ngươi chỉ dùng lý-lẽ để thắng giặc thì cần chi đến quân sĩ cho đông ?
Tử-Đột làm thinh, qua nhà Thái-miếu lạy tạ rồi kéo binh ra đi.
Lúc ấy binh của năm nước Chư-hầu đã đến vây đánh nước Vệ đông nghẹt.
Công-tử Tiết và Công-tử Chức không dám chống cự chỉ thủ thành chờ cứu binh đến.
Nhưng thảm thay ! Tử-Đột đến với một toán binh quá ít , người lao mã liệt, xe cộ ngửa nghiêng như một nhóm tàn quân vừa thất trận.
Tử-Đột mới tới, chưa kịp đóng trại, binh của năm nước đã áp lại đánh nhầu một trận , quân sĩ chạy tán loạn, không kịp thốt ra nữa lời.
Tở-Đột ngước mặt lên trời than :
– Ta vâng mạng Thiên-tử đến đây dầu có thác cũng được làm con ma trung nghĩa.
Nói rồi, liều chết vung đao giết đặng hơn mười người rồi mới tự vận.
Quân sĩ trong thành Vệ thấy binh thiên triều bị thua, lớp tử trận, lớp bỏ trốn , hoảng hốt mở cửa thành mà chạy.
Các nước chư-hầu đốc quân tràn vào.
Công-tử Tiết và Công-tử Chức cùng Ninh-quý thu góp tàn quân , phò Kiềm-mâu chạy trốn.
Nhưng vừa lọt qua khỏi vòng vây thứ nhứt thì bị địch quân bắt lại.
Duy có Ninh-quý lanh trí, cởi bõ xiêm giáp , lộn vào đám quân Tề thoát ra khỏi thành chạy qua nước Tần lánh nạn.
Chiến trận vừa tan , các chư hầu đưa Vệ-Sóc vào thành, dẫn Kiềm-mâu , Công-tử Tiết và Công-tử Chức vào nạp.
Tề tương-công sai đao phủ-thủ dẫn Tiết và Chức ra chém đầu, còn Kiềm-mâu vì nghĩ tình anh em bạn rể, nên bõ vào tù xa sai người đem về nạp cho vua nhà Châu.
Vệ-Sóc lên tức vị , lấy hiệu cũ là Vệ huệ-Công rồi đem vàng bạc châu báu trong kho nạp cho Tề để đến ơn.
Tề tương-công nói :
– Bắt đặng Kiềm-mâu là công của Lỗ-hầu, vậy nước Lỗ phải liệng thiên-lnểu chl cho Thiên-tử nhà Châu được hướng công đầu.
Nói rồi chia hai của ấy cho Lỗ, lại khiến Vệ-hầu thu góp các báu vật khác thưởng cho Tống, Trần, Sái.
Sau khi mở tiệc đãi đằng, các chư hầu lần lượt kéo quân về.
Tề tương Công về đến Kinh-đô lòng rất lo lắng. Bụng bảo dạ : Thắng Kiềm-mâu thì chẳng nói làm chi, nay lại thắng cả binh thiên triều là điều đáng ngại. Vua Châu ắt cử binh sang vấn tội, ta nên đề phòng trước thì hơn.
Nghĩ rồi liền sai Liên-xứng làm Chánh-tướng Quản chí-phủ làm Phó tướng đem binh ra đồn trú nơi đất Quý-châu để trấn giữ mặt Đông-Nam.
Hai tướng vâng lệnh, kiểm-điểm binh mã kéo đi.
Nhưng trong lức bái-biệt, hai tướng tâu với Tề tương-công :
– Tâu Chúa-công, việc đồn trú nơi biên-ải là một công lao cực nhọc cần phải có hạn-kỳ để quân sĩ khối nản lòng vì buồn chán.
Tề tương-công đang ngồi ăn dưa hấu, nghe tâu, đáp vội :
– Đến mùa dưa hấu năm sau ta sẽ cho người ra thay.
Hai tướng cúi lạy giã từ.
Tháng ngày thắm thoát trôi, trôi trên sự mong chờ của đoàn lính xa nhà, gối tuyết màn sương, nơi chốn biên cương lạnh lẻo.
Rồi, mùa dưa đến, đoàn quân biên-khu khoắc-khoải mơ ước được hồi hương , mà tin vua biền-biệt không thấy đến.
Hai tướng Liên-xứng và Quản chí-phủ cho người về kinh-đô do thám.
Quân về báo :
– Chúa-công ở nơi Cốc-thành vui riêng với nàng Văn-khương đã một tháng nay chưa về triều.
Liên-xứng nghe báo nổi giận, nói :
– Vương-cơ đã thác, lẽ thì em gái ta là Liên-thị đặng làm phu-nhân, nhưng hôn quân vô đạo, đã không đoái tưởng mà lại còn tiếp tục việc dâm loạn với Văn-khương, thật là quá lắm. Thân ta cực nhọc đồn trú nơi biên-thùy biết bao giờ mới được về triều ?
Quản chí-phủ nói :
– Chúa-công đã hứa với ta, đến mùa dưa hấu cho người đến thay, vậy ta làm sớ về triều nhắc lại. Nếu Chúa-công bỏ qua, chừng ấy lòng quân sanh oán, ta sẽ tùy cơ ứng biến.
Liên-xứng khen phải, sai người đem sớ về Kinh trình tấu.
Tề tương-công xem sớ, nổi giận mắng lớn :
– Việc binh dời đổi là quyền của ta, cớ sao lại được xin ?
Nói rồi ra lệnh cho người dâng sớ trở về nói lại với hai tướng chờ đến mùa dưa năm sau nữa sẽ định liệu.
Liên-xứng được tin, mặt giận hầm hầm, nói với Quản chí-phủ :
– Hôn quân vô đạo đã không giữ lời hứa , ta há lại đem thân trung thành với kẻ thất tín sao . Ý ta muốn thí-quân lập vua khác, tướng công liệu lẽ nào ?
Quản chí-phủ nói:
– Nếu muốn thí Tề tương-Công trước hết phải định người thay thế. Công-tôn Vô-tri là con của Di trọng-niên , thuộc dòng thứ . Trong lúc Tiên-quân còn sống rất mực yêu mến Vô-Tri . Từ ngày Chúa-công lên ngôi có sự xích mích , nên đem lòng oán ghét.
Liên-xứng hỏi :
– Tại sao có sự xích mích ấy ?
Quản chí-phủ nói :
– Nguyên trước kia Vô-tri ở trong cung hay cãi nhau với Tề tương-công. Một hôm Vô-tri nổi giận đá Tề tương-công ngã xuống ghế. Lại một hôm nọ, Vô-Tri tranh với quan Đại-phu Ung-Lẫm đi trước nên Tề tương-công rất ghét. Tôi xem ý Vô-tri muốn mưu loạn, ngặt không ai giúp sức, nay ta viết thư về nhờ Vô-tri làm nội ứng thì việc cả ắt nên.
Liên-xứng nói :
– Thế thì nên thừa cơ hội nào mà thực hiện ý định .
Quản chí-phù nói :
– Tề tương-công là người giỏi binh pháp, nhưng tính lại ưa săn bắn, vậy phải dụ cọp ra khỏi hang thì mới trị nổi. Ta cứ chờ dịp nào Tề tương-công ra ngoài là hành-sự.
Liên-xứng nói :
– Em gái tôi là Liên thị, bị thất-sũng, lâu nay cũng rất oán ghét Tề tương-công, bây giờ viết thư dặn Vô-tri tư-thông với Liên-thị, lúc nào Tề tương-công đi săn bắn phải lập tức cho chúng ta biết.
Quản chí-phủ khen phải bèn viết thư sai người đem đến cho Vô-tri.
Thư ấy như vầy:
Tiên quân ngày trước rất yêu mến Công-tôn, thế mà nay Tề tương-Công ỷ mình quyền theo không kể mình anh em tộc họ. Vả lại, Tề tương-Công lại là một hôn quân dâm loạn, trong bỏ bê việc triều chính, ngoài không nghĩ đến lương dân. Chúng tôi đi đồn trú suốt cả năm đã không ngó-ngàng đến lại còn trách-cứ. Lòng quân rất oán hận muốn khởi loạn , ngặt chưa có dịp . Nếu nay Công-tôn đồng lòng với chúng tôi phế bỏ hôn-quân, thật là một dịp tốt. Trong cung lại có Liên-thị, có thể giúp Công-tôn làm nội ứng được. Xin chớ bỏ qua .
Công-tôn Vô-tri được thư, lòng mừng khấp khởi , vội viết thư phúc đáp :
Lòng trời đã chán ghét hôn quân nên mới xui tướng-quân nghĩ đến việc ấy. Tôi xin thành tâm hiệp lực, và lúc nào có dịp, sẽ tin cho tướng quân hay .
Đoạn Vô-tri cho người vào cung bàn tính với Liên-thị, lại hứa với Liên-thị rằng : Nếu chiếm được ngai vàng sẽ lấy Liên-thị làm phu nhân.
Liên-thị mừng lắm .
Mùa đông năm ấy, Tề tương-công sắp đặt đến núi Bối-Kỳ nơi đất Cô-phần để săn bắn.
Liên-thị hay tin, sai người nói lại với Công-tôn Vô-tri.
Công-tôn Vô-tri liền viết một mật thư, đưa ra biên giới cho Liên-xứng hẹn ngày khởi sự.
Liên-xứng bàn với Quản chí-phù :
– Hôn quân đi săn bắn, trong nước không có ai bọn ta kéo binh về thẳng Tề-đô mà lập Công-tôn lên ngôi cho rồi.
Quản chí-phủ nói :
– Tuy Tề tương-công là một hôn quân dâm loạn, song có liên kết với các chư-hầu, và các chư hầu cũng hết lòng tương trợ. Nếu để hôn quân còn sống , viện binh nước ngoài về đánh chúng ta cự sao lại. Chi bằng phục binh mà giết quách đi , rồi sau sẽ tôn Vô-tri lên cũng chẳng muộn.
Hai tướng bàn bạc xong, kéo binh sang đất Cô-phần phục sẵn.
Chỉ mấy ngày sau, Tề tương-công sắm sửa xe giá, dẫn đoàn ngự lâm quân cùng hai viên cận-tướng là Thạch-chi Phân-như và Mạnh-dương theo hầu, cùng nhau đến núi Bối-Kỳ.
Cạnh núi Bối-kỳ rất đẹp, có khe, có suối hai bên đá dựng chập-chồng, rừng cây rậm rạp .
Tề tương-công truyền đốt lửa ở hai bên ven rừng để dồn các muông thú vào giữa mà săn bắn.
Lửa cháy rần rần, gió reo vi vút, những loài điểu thú sợ lửa bay nhảy tán loạn.
Vua tôi được một dịp trổ tài xạ kích.
Bỗng từ nơi ven rừng một con quái vật xuất-hiện, hình dung kỳ-dị, to bằng con trâu, nữa giống cọp nữa giống heo, chạy đến trước mặt Tề tương-công rồi dừng lại.
Tề tương-công quay lại, gọi Mạnh-dương bảo :
– Ngươi hãy bắn con quái vật đó cho ta.
Mạnh-dương, tay rút tên, mắt nhìn chăm chăm con quái vật đó, rồi nói to :
– Tâu Chúa-công con quái-vật nầy giống Công-tử Bành-sinh quá !
Tề tương-công nói :
– Bành-sinh đã chết, sao còn dám đến đây phạm giá .
Nói rồi giật lấy cung tên, bắn một mũi.
Quái-vật kia né tên .
Tề tương-công bắn luôn ba phát mà vẫn không trúng.
Bỗng quái-vật đứng dậy, đi hai chân như người, lại khóc lóc rất thê-thảm.
Tề tương-công cả người rởn ốc, té nhào xuống xe , trợt chân rơi ra một chiếc giày.
Quái-vật chạy đến tha chiếc giày biến mất.
Kẻ tả hữu vội chạy đến đỡ Tề tương-công lên xe, rồi phò về ly-cung nơi Cô-phần an nghỉ.
Đêm ấy, Tề tương-công lòng nóng như đốt, không làm sao ngủ được , lại bị trặc chân, đau nhức vô cùng, mới bảo Mạnh-dương đở mình đi lại trong phòng cho thư thả.
Nhìn lại, thấy mất một chiếc giày , Tề tương-công cho đòi Đồ nhân-phí là kẻ hầu cận vào, hỏi :
– Sao giày ta chỉ còn một chiếc thế nầy ?
Đồ nhân-phí tâu :
– Tâu Chúa-công, lúc Chúa-công bị té, chiếc giày văng ra, con quái vật ngoạm lấy tha đi mất.
Tề tương-công cả giận hét :
– Ngươi giữ việc y-quan, thế mà để con quái vật đó tha mất chiếc giày của ta, mà ngươi vẫn còn sống sao ?
Nói xong rút roi da đánh bổ vào lưng Đồ nhân-phí.
Đánh đến máu chảy dầm dề mới chịu thôi.
Đồ nhân-phí vừa khóc lóc, vừa bước ra cửa.
Bỗng gặp Liên-Xứng đi với hai người tùy tùng đến đó mà thám thính.
Thấy Đồ nhân-phí, Liên-xứng liền thộp ngực, hỏi :
– Hôn-quân hiện giờ ở đâu ?
Đồ nhân-phí ngạc nhiên không hiểu Liên-xứng đang trấn nơi biên thùy, sao lại đến đây tác-loạn, bèn hỏi:
– Sao tướng quân lại đến đây và có ý gì đó ?
Liên-xứng nói :
– Ta quyết giết đứa hôn quân để đem lại hạnh phúc cho bá tánh. Ngươi đừng có nhiều lời, hãy nói mau.
Liên-xứng vừa nói, vừa giơ đao muốn chém.
Đồ nhân-phí cả sợ nói :
– Tôi vừa bị hôn-quân đánh một trận, thịt còn sưng, máu còn chảy đây. Xin tướng-quân tha chết cho tôi để tôi làm nội ứng cho.
Liên-xứng xem lại thấy Đồ nhân-phí áo quần lem luốc những vệt máu, mới tin lời, và dặn :
– Hãy vào xem hôn quân ngủ ở đâu, rồi ra báo với ta lập tức .
Nói xong, quay lại gọi Quản chí-phủ bảo dẫn quân sĩ thẳng vào ly-cung.
Đồ nhân-phí vào khỏi cửa gặp Thạch-chi Phân-như liền kể lại chuyện Liên-xứng khởi loạn.
Hai người dắt nhau đến báo cho Tề tương-công hay.
Tề tương-công cả sợ, chưa biết tính lẽ nào, Đồ nhân-phí tâu :
– Việc đã quá gấp, xin Chúa-công cho một người giả Chúa-công , liều chết thay mạng nằm trên giường, còn Chúa-công lo ẩn núp sau cửa , may có cơ-hội thoát nạn.
Mạnh-dương nói :
– Tôi mang ơn Chúa-công rất trọng, nay nguyện liều mình chết thế.
Nói rồi trèo lên giường, nằm ngoảnh mặt vào trong.
Tề tương-Công cởi áo cẩm-bào khoác lên mình Mạnh-dương rồi lẻn ra phía sau mà trốn.
Thấy Đồ nhân-phí không theo mình, Tề tương-công hỏi :
– Ngươi không đi trốn sao ?
Đồ nhân-phí tâu :
– Tôi phải hiệp sức với Thạch-chi Phân-như để cự địch .
Tề tương-công nhìn Đồ nhân-phí nói :
– Lưng của ngươi đau như thế mà không ngại sao ?
– Dẫu chết còn chưa tiếc thì cái đau đó đâu đáng kẻ.
Tề tương-công than dài :
– Ôi ! ngươi quả là đấng trung thần, tiếc rằng ta đã không có con mắt nhận xét.
Đồ nhân-phí bảo Phân-như cầm dao đứng chận nơi cửa.
Lúc ấy Liên-xứng cũng vừa phá được cửa ngoài, ồ ạt bước vô.
Đồ nhân-phí xốc đến toan chém, nhưng Liên-xứng đã lẹ tay đâm một gươm lòi ruột, nhào xuống đất chết ngay.
Phân-như thấy vậy nhãy tới cũng bị Liên-Xứng vớt cho một gươm , đầu lìa khỏi cổ .
Giết xong hai viên cận-vệ , Liên-xứng bước đến bên giường ngủ của Tề tương-công, không thấy bọn cận vệ đâu cả, chỉ thấy một người nằm đắp cẩm bào sau bức màn thêu. Ngỡ đó là Tề tương-công, Liên-xứng liền vung gươm chém một nhát, đầu văng ra khỏi gối.
Liên-xứng lượm đầu lên xem, thấy không râu, biết mình đã lầm, vội khiến quân lục lạo khắp nơi.
Khi ra đến phòng sau, Liên-xứng bắt gặp một chiếc giày thêu bỏ nơi cửa hậu. Chiếc giày ấy chính là chiếc giày mà con quái-vật đã tha đi. Vì vậy ai cũng tin là Công-tử Bành-sinh báo oán.
Trông thấy chiếc giày , Liên-xứng nghi Tề tương-công núp đâu đây vội phá cửa bước ra.
Quả thật, lúc đó Tề tương-công đang núp ở xó cửa.
Liên-xứng nắm cổ, đè xuống đất, hét lớn :
– Hôn quân dâm loạn ! Mi không kể đến sự nghiệp Tiên-quân , gây nên nhiều tội ác, khiến dân chúng lầm than khổ sở. Không nghe lời cha dạy khinh bỏ việc công ấy là bất hiếu, gian dâm với em gái mình, đó là phi-nghĩa, bắt người đi đồn thú rồi sai ước, đó là bội-tín, cậy sức mạnh, giết oan mọi người đó là bất nhân. Cả nhân nghĩa, hiếu, tín đều phạm phải, dầu ta có phân thây mi làm mấy mảnh cũng vẫn chưa đền được tội.
Nói xong, chặt Tề tương-công ra làm hai khúc, rồi cùng với Quản chí-phủ kéo quân trở về Tề-đô.
Công-tôn Vô-tri hay tin mở cửa thành nghênh tiếp.
Hai tướng vào thành tôn Công-tôn Vô-Tri lên kế vị.
Công-tôn Vô-tri lập Liên-thị làm phu-nhân phong Liên-xứng làm Chánh-Khanh, Quản chí-Phủ làm á-khanh còn các quan Đại phu đều giữ nguyên chức.
Triều thần tuy không ai phản đối nhưng ít ai khâm phục.
Riêng có Ung-lẫm, trước kia vì có tội dành đi trước với Vô-tri nên nay cúi lạy xin lỗi , còn Cao-quốc là người có thân thế nhất tại triều, cáo bịnh không vào chầu.
Vô Tri lên ngôi được mấy hôm, thì Quản chí-phủ khuyên Vô-tri nên treo bảng cầu người hiền ra giúp nước, lại tiến cử người cháu họ của mình là Quản di-ngô, yêu cầu Vô-tri thu-dụng để chung lo việc triều-chính.

Hồi 15
Ung-lẫm lập mưu giết tân chúa
Lỗ-công bại trận nơi Kiều-thời

Nói về Quản di-ngô tên chữ là Trọng, một người tướng mạo khôi ngô, thông minh xuất chúng, học rộng, mưu cao, đũ tài kinh thiên vĩ địa. Lúc còn là hàn sĩ, làm bạn với Bảo thúc-Nha. Hai người thường đi buôn chung. Nhưng mỗi khi kiếm được lời, Quản di-ngô bao giờ cũng nhận lấy phần hơn, chỉ chia cho Bảo thúc-nha chút ít mà thôi. Tuy-nhiên, Bảo thúc-nha chẳng hề tỏ ý phàn-nàn.
Người ngoài thấy nói với Bảo thúc-nha :
– Cùng công cán như nhau, sao ông lại để cho Quản di-ngô hiếp mình như thế ?
Bảo thúc-nha đáp :
– Quản di-ngô đâu phải tham-lam, ấy chỉ vì nhà nghèo, tiêu không đủ, nên ta nhường cho va đó.
Sau đến lúc ra phò Tề tương-công giúp việc quân-vụ, mỗi lần ra trận, Quản di-ngô đi sau, nhưng đến lúc lui binh về thì Quản di-Ngô lại đi trước. Ai nấy cho Quản di-ngô là nhát gan.
Bảo thúc-nha nói :
– Không phải Quản di-ngô nhát gan đâu, chỉ vì va còn mẹ già nên muốn giữ lấy thân để phụng dưỡng mẹ.
Việc làm của Quản di-ngô phần nhiều bị thất bại. Ai nấy cho là kẻ bất trí.
Bảo thúc-nha nói :
– Đó là con người chưa gặp thời . Nếu lúc Quản di-ngô đã gặp thời , thì nói mười lời không sai một.
Quản di-ngô nghe Bảo thúc-nha nhận xét mình như thế, lòng rất khâm phục, than thầm :
– Sinh ra ta ấy là cha mẹ, mà hiểu biết ta thì trong đời chỉ có một Bảo thúc-nha mà thôi.
Từ lúc đó, hai người trở nên tương đắc.
Quản di-ngô cũng như Bảo thúc-nha được tiếng là học rộng , đều được Tề tương-công chọn làm Sư-phó.
Nguyên Tề tương-công có hai người con, người lớn là Công-tử Cả mẹ người nước Lỗ, người nhỏ là Tiểu-bạch, mẹ người nước Cư .
Hai vị Công-tử nầy tuy không phải con dòng đích, nhưng Tề tương-công thấy đã khôn lớn cần phải tìm thầy dạy dỗ.
Quản di-ngô nói với Bảo thúc-nha :
– Tề-hầu có hai người con tuy là dòng thứ mặc lòng, song không có dòng đích thì ngày sau dòng thứ phải được nối ngôi. Bây giờ chúng ta lãnh mỗi đứa một người mà dạy dỗ , sau nầy nếu người nào được nối ngôi thì chúng ta tiến cử lẫn nhau để được trọng dụng.
Bảo thúc-nha khen phải.
Hai người vào triều yết kiến Tề tương-Công.
Bảo thúc-nha thì lãnh Công-tử Tiểu-bạch còn Quản di-Ngô lãnh Công-tử Củ, có Thiệu-hốt giúp đỡ.
Một thời gian sau Tề tương-công ham mê săn bắn , thường đến đất Chước để tư tình với Văn-khương .
Thúc-Nha mới tỏ ý với Tiểu-bạch rằng :
– Chúa-công dâm loạn, dân tình không phục, tôi e trong nước sanh biến chẳng lâu, Công-tử nên có lời can gián.
Tiểu-bạch y lời.
Một hôm vào tâu với Tề tương-công :
– Lỗ-hầu bị thác, thiên hạ dị-nghị rất nhiều, xin phụ thân nên tị hiềm, đừng đi săn bắn mà sinh hậu-hoạn.
Tề tương-công nổi giận xách giày liệng Tiểu-bạch, hét :
– Mày là đứa con nít biết gì đến công việc ta mà nói .
Tiểu-bạch thất-kinh, bõ chạy về nói lại với Thúc Nha.
Thúc-Nha buồn bã nói :
– Đã không bỏ được lòng tà, ắt tai họa phải đến. Vậy Công-tử nên cùng tôi sang một nước khác lánh nạn, ngày sau sẽ tính.
Tiểu Bạch hỏi :
– Bây giờ phải qua nước nào ?
Thúc-nha nói :
– Nước lớn thường cậy thế cậy thần , tánh tình hay thay đổi. Còn nước nhỏ thủ phận, ít sinh chuyện lôi thôi . Vậy ta nên sang nước Cử, gần gũi với nước Tề, sau nầy có trở về cũng dễ.
Tiểu bạch thuận tình. Hai người cùng trốn qua nước Cử.
Cách đó không lâu, Tề tương-công bị giết . Công-tôn Vô-tri nên đoạt ngôi và sai người đến triệu Quản di-ngô vào triều nghị việc .
Quản di-ngô nói :
– Bọn ấy gươm đã sắp kề cổ mà không biết đến mình còn muốn làm phiền luỵ đến kẻ khác nữa sao ?
Nói rồi bàn với Thiệu-hốt phò Công tử Củ chạy sang nước Lỗ.
Nước Lỗ vốn là bên ngoại của Công-tử Củ , nên Công-tử Củ được Lỗ trang-công trọng đãi, cho ở nơi đất Sinh-dậu .
Còn Vô-tri từ khi lên kế vị, quần thần không phục, Liên-xứng và Quản chí-phủ được tin dùng nên mỗi lúc một làm cao, khiến ai nấy bất bình ra mặt.
Ung Lẫm thấy tình trạng ấy, một hôm tìm cách thử lòng mọi ngươi, bèn phao lên một tin đồn, nói :
– Có người nước Lỗ cho biết Lỗ-hầu sắp đem quân phạt Tề . Tề đưa Công-tử Củ lên ngôi . Chẳng hay các ngài có ai nghe tin ấy chăng ?
Các quan đều ngơ ngơ ngác nhìn nhau thầm tỏ vẻ đắc ý.
Khi bãi triều, các quan lần lượt đến dinh Ung-lẫm để thăm dò.
Ung-lẫm hỏi :
– Nếu việc đó là sự thật các ngài sẽ tính sao ?
Đông quách-nha nói :
– Tiên-quân ta vô-đạo, nhưng con của người đâu có tội chi, lẽ nào chúng ta lại phò một người khác.
Ung-lẫm đưa mắt nhìn mọi người thấy ai nấy đều có vẻ cảm động, bèn nói :
– Trước kia sở dĩ tôi lạy lục xin tha tội là có ý muốn dành thân nầy đặng dùng vào việc ngày nay . Nếu các ngài giúp tôi trừ bọn phản-nghịch đem ngôi lại cho con cái Tiên-quân thì thật là việc đại nghĩa.
Đông quách-Nha hỏi :
– Nhưng ngài đã có kế hoạch gì để mưu việc đại nghĩa ấy chưa ?
Ung-lẫm nói :
– Cao-quốc là một lão thần, được nhiều người kính trọng, cả đến Liên-xứng và Quản chí-Phủ cũng phải sợ, chẳng dám cậy quyền-uy mà lên mặt. Nay ta đến bàn với Cao-quốc mở một tiệc rượu mời Liên-xứng và Quản chí-phủ đến dự thì thế nào hai đứa ấy cũng đến. Lúc bấy giờ chúng ta vào triều, gạt Vô-tri ra khỏi cung mà giết, đồng thời, đóng cửa nhốt Quản chí-phủ và Liên-Xứng nơi dinh Cao-quốc, để lo việc lập vua mới .
Đông quách-nha nói :
– Cao-quốc lâu nay vì ghét bọn nịnh thần nên chẳng thèm ngó đến việc triều chính. Nay đem mưu ấy mà bàn ắt Cao-quốc không từ chối . Vậy tôi xin lãnh việc ấy cho.
Nói rồi, Đông quách-Nha vội vã đến dinh Cao-quốc, đem ý kiến của Ung-lẫm thuật lại.
Cao-quốc nhận lời, sai Đông quách-Nha đi mời Liên-Xứng và Quản chí-phủ.
Liên-xứng và Quản chí-phủ lâu nay thấy Cao Quốc không trọng mình nên lòng không vui.
Nay được tin Cao-Quốc đặt tiệc khoản đãi lấy làm hớn hở, lập tức đến dự.
Trong bữa tiệc , Cao-quốc nói với Liên-xứng và Quản chí-phủ :
– Xưa Tiên-quân thất đức, lão phu chi sợ e nước phải mất , không ngờ được nhị vị tướng quân ra tay cứu nước, lập lên tân quân nắm giữ giềng mới thật là may mắn. Nay phận tôi già yếu, không còn sức lực để chung lo việc triều chính, vậy có chén rượu lạt nầy nhờ nhị vị tướng quân tưởng tình mà che chở cho con cháu tôi, tôi rất mang ơn .
Liên-xứng và Quản chí-phủ tỏ lời khiêm nhượng , rồi cả hai uống đến say vùi .
Cao-quốc khiến người đóng chặt cửa dinh lại.
Giữa lúc ấy, Ung-lẫm dắt dao trong mình, đi vào cung nói với Vô-Tri :
– Công-tử Củ sắp đem quân Lỗ về đánh, xin Chúa-công lâm triều mà nghị kế.
Vô-tri hỏi :
– Liên-xứng và Quản chí-phủ không có mặt ở đây sao ?
Ung-lẫm tâu :
– Hai người ấy đi uống rượu chưa về, song việc binh rất gấp các quan đã hội đủ mặt xin Chúa-công ra mà thương-nghị.
Vô-trị tin lời, khoác long bào bước ra.
Ung-lẫm bước theo sau thừa cơ hội đâm lén Vô-tri một dao, ngã quỵ xuống đất máu tuôn lai láng.
Giết Vô-tri xong, Ung-Lẫm liền khiến đốt lửa làm hiệu .
Cao-quốc cùng với Liên-xứng và Quản chí-Phủ uống rượu trong dinh, thấy lửa cháy, biết việc đã thành, liền bõ đứng dậy hô võ sĩ bắt Liên-xứng và Quản chí-phủ trói lại, dẫn ra ngoài chợ chém đầu.
Ung-lẫm cùng các quan lại nhóm họp nơi nhà Cao-quốc để bàn việc cho người sang nước Lỗ , rước Công-tử Củ về nối nghiệp.
Còn Liên-thị, vợ Vô-Tri hay được tin cả sợ, rút gươm tự-vận .
Tính lại, từ lúc Vô-tri lên ngôi đến nay chỉ có một tháng mà thôi .
Ngày kia, Lỗ trang-công đang ngồi nghị việc, xảy có nước Tề đem thư đến , kể rõ việc giết Vô-Tri và xin rước Công-tử Củ về nước .
Lỗ trang-công cả mừng, muốn cho người cất quân đưa Công-tử Củ đi .
Xảy có Thi-bá bước vào tâu :
– Tâu Chúa-công, nước Tề bị tai biến, đó là việc tốt. Hễ Tề yếu thì Lỗ mạnh xin Chúa-công hãy thư thả mà tính việc.
Lỗ trang-công nghe nói lòng dù dự chưa quyết .
Lại nói đến nàng Văn-khương , từ khi nghe Tề tương-công bị giết liền bõ đất Chước trở về Lỗ , khuyên Lỗ trang-công cất quân đánh Tề để báo thù cho anh mình. Nay được nghe kẻ thù Vô-tri bị giết liền hối thúc Lỗ trang-công đưa Công-tử Củ về kế vị.
Lỗ trang-công tuy nễ lời Thi-bá nhưng không dám cãi lời mẹ, liền khiến người đem quân hộ tống Công-tử Củ về nước.
Quản di-Ngô nghe được tin vội vã vào triều tâu với Lỗ trang-Công :
– Tâu Chúa-công, Tề tương-công hiện còn hai đứa con là Công-tử Củ và Công-tử Tiểu-bạch. Hiện nay Tiểu-bạch đang trú nơi nước Cử là nước giáp liền với Tề. Tôi e Tiểu-bạch được tin về nước trước mà lên ngôi. Vậy xin Chúa-công cho tôi mượn một con ngựa hay và một ít quân binh đặng đón đường Tiểu-bạch . Như thế mới tranh ngôi cho Công-tử Củ được .
Lỗ trang-công hỏi :
– Ngươi muốn đem bao nhiêu quân ?
Quản di-ngô đáp :
– Không cần nhiều lắm. Chỉ độ ba mươi cỗ xe là đũ .
Lỗ trang-công liền phát binh.
Quản di-ngô lãnh mạng kéo quân đi.
Ngay lúc ấy, bên nước Cử, Công-tử Tiểu-bạch cũng đã hay tin Vô-Tri bị giết, liền bàn với Bảo thúc-nha mượn một trăm cỗ xe của nước Cử, hộ tống trở về Tề.
Cử và Tề sát biên giới, Công-tử Tiểu-bạch đi chưa bao lâu đã khỏi biên giới nước Cử.
Còn Quản di-ngô đem binh đuổi theo, đến biên giới thì đã nghe tin Tiểu-bạch đi qua rồi .
Quản di-ngô vội vã đuổi theo hơn ba mươi dặm nữa mới theo kịp.
Vừa thấy Tiểu-Bạch .
Quản di-ngô gọi lớn :
– Từ ngày các mặt nhau đến nay Công-tử vẫn được mạnh giỏi chứ ? Chẳng hay Công-tử cất binh đi đâu mà gấp lắm vậy ?
Công-tử Tiểu-bạch đáp :
– Tôi muốn về nước lo việc cư-tang cho phụ-thân tôi .
Quản di-ngô nói :
– Việc cư-tang đã có Công-tử Củ là anh cả , còn Công-tử là em thì vội làm gì . Xin hãy đình lại đã.
Thúc-nha nói :
– Chúng ta, ai vì chúa nấy xin Di-ngô chớ nhiều lời.
Nói xong, thúc quân tiến bước.
Quản di-ngô muốn cản lại, nhưng thấy binh cửa Tiểu-bạch đông hơn binh mình gấp bội, liệu thế khó đương bèn rút cung tên nhắm ngay Tiểu-bạch bắn một mũi.
Tiểu-bạch la lên một tiếng , trào máu miệng té ngửa trong xe.
Thúc-nha thất kinh, lật đật đến cứu.
Bọn tùy tùng trông thấy khóc rống lên.
Quản di-ngô tin chắc Tiểu-bạch đã thác, vội vã quảy xe lui binh trỡ về lòng hớn hở, nghĩ thầm :
– Công-tử Củ có phước lắm ! Thế là ngôi báu kia không còn ai tranh đoạt nữa !
Khi về đến nơi, Quản di-ngô thuật rõ câu chuyện bắn chết Tiểu-bạch cho Lỗ-hầu nghe.
Lỗ-hầu lấy làm thích thú, truyền dọn tiệc ăn mừng rồi lo việc đưa Công-tử Củ về nước.
Tuy-nhiên, Quản di-ngô đã lầm, mũi tên kia không giết được Công-tử Tiểu-bạch , vì mũi tên đó xẹt qua chiếc dây đai thắt lưng. Còn Công-tử Tiểu-bạch là người lanh trí, biết tài bắn của Quản di-Ngô nên giả vờ cắn chót lưỡi phun máu ra, rồi ngả ngựa trên xe, để Quản di-ngô khỏi bắn tiếp mũi tên thứ hai. Trí của Tiểu-bạch lanh như vậy đến nỗi Thúc-nha cũng không ngờ. Khi thấy Tiểu-bạch không bị thương tích gì, Thúc-nha vội thay quần áo và giấu vào trong một cỗ xe riêng, hối quân tiến gấp .
Ðến nơi, Thúc-nha vào thành, ra mắt các quan, tiến cử Công-tử Tiểu-bạch và xin lập lên kế vị.
Các quan nói :
– Chúng tôi đã cho người qua nước Lỗ, rước Công-tử Củ rồi, nếu bây giờ tôn Tiểu-bạch lên nay mai Công-tử Củ về tới biết liệu .
Thúc-nha nói :
– Nước không nên để một ngày không có vua. Các quan đi rước Công-tử Củ mà Công-tử Củ chưa về, còn Công-tử Tiểu-bạch lại có mặt. Ðó là lòng trời muốn Tiểu-bạch lên ngôi. Vả lại, nếu để nước Lỗ đem binh đưa Công-tử Củ trở về phục nghiệp thế nào nước Lỗ cũng kể công ơn mà đòi hối lộ như trường hợp nước Tống với Trịnh-hốt ngày trước, thật là xấu hổ.
Các quan Ðại-phu lại nói :
– Nếu vậy chúng ta phải dùng kế chi mà trả lời với Lỗ-hầu ?
Thúc-nha nói :
– Hễ nước đã có vua tự nhiên Lỗ-hầu phải kéo binh về, không cần phải dụng kế gì cả.
Quan Ðại-phu Thấp-bằng và Ðông quách-nha đều khen phải.
Bèn mở cửa thành rước Công-tử Tiểu-bạch vào tôn lên ngôi, tức là Tề hoàn-công.
Tề hoàn-công được Thúc-Nha giúp đỡ, chỉnh đốn việc triều chính, ban bố ân-đức cho mọi người.
Các quan tuy tôn Tề hoàn-công lên ngôi, song lòng hồi họp lo lắng, sợ binh Lỗ kéo đến bất ngờ.
Bảo thúc-Nha tâu với Tề hoàn-Công :
– Bây giờ muốn cho cả triều thần được an tâm, xin Chúa-công cho một đạo binh ra đón nơi biên thùy để ngăn quân Lỗ thì khỏi lo gì cả .
Tề hoàn-công chuẩn tấu, sai Trọng tôn-thu dẫn ba trăm chiến xa ra đóng nơi quan ải, nếu binh Lỗ kéo đến thì nói cho Lỗ-hầu biết là nước Tề đã có vua.
Ngày kia, Lỗ trang-công kéo binh rần rộ, đưa Công-tử Củ về nước để phục nghiệp. Nhưng vừa tới biên giới, hay được sự tình lòng hậm hực, nói :
– Theo thứ tự, hễ lớn thì được nối ngôi nay Tiểu-bạch là em lại tranh giành như vậy thật là vô lễ. Ta quyết không chịu lui binh .
Trọng-thu thấy thái độ giận dữ của Lỗ-hầu lập tức viết thư về triều cáo cấp.
Tề hoàn-công hỏi Thúc-nha :
– Quân Lỗ không chịu lui thì làm thế nào ?
Thúc-nha đáp :
– Nếu không lui binh thì ta phải đem binh chống cự.
Tề hoàn-công lập tức khiến Vương-tử Thành-phù và Ninh-việt cầm đạo binh bên tả, Ðông quách-nha cầm đạo binh bên hữu, Ung-Lẫm đi tiên phuông còn Thúc-nha thì phò xe giá đi trung quân.
Ðông quách-nha quì tâu :
– Quân Lỗ thế nào cũng sợ ta dự bị trước, chẳng dám tiến gấp nay xin đem quân ra nơi đất Kiều-thời mà mai phục, chờ cho quân Lỗ đến đó đồn binh, chúng ta xuất kỳ bất ý xua binh hỗn chiến, làm cho hàng ngũ binh Lỗ rối loạn thì thế nào cũng đặng trọn thắng.
Thúc-nha khen phải, khiến Trọng tôn-thu và Ninh-việt kéo binh đi trước, chận đường mai phục sẵn, còn Vương-tử Thành-phủ và Ðông quách-nha thì đi đường tắt, chận đường về. Lại khiến Ung-Lẫm dẫn một đạo binh đi dọ thám, hễ gặp binh Lỗ thì giả thua mà dụ địch. Các tướng tuân lệnh, kéo binh ra đi.
Khi Lỗ trang-công và Công-tử Củ kéo binh đến đất Kiều-Thời, Lỗ trang-công ra lệnh đóng quân đồn trú.
Quản di-ngô nói :
– Tiểu-bạch vừa lên ngôi, việc quân chưa định, nay phải đánh gấp nếu diên trì e khó thắng.
Lỗ trang-công nói :
– Tiểu-Bạch đoạt ngôi anh thế nào cũng đề-phòng nếu ta ào ạt kéo đến không khỏi lầm kế. Vậy cứ đóng quân nơi đây dò xét tình hình rồi sẽ liệu.
Lỗ trang-công nói vừa dứt lời, có quân thám-thính về báo :
– Binh Tể đã đến, Ung-lẫm dẫn một đoàn binh đến đây cách chừng vài dặm .
Lỗ trang-công nói :
– Nếu ta không đề phòng ắt lầm kế của quân Tề rồi.
Liền khiến Lương-tử và Tần-Tử dàn quân ra hai đạo tiếp ứng .
Còn Lỗ trang-công đốc quân tiến tới.
Vừa gặp Ung-lẫm, Lỗ trang-công chỉ vào một mắng :
– Ngươi đã ra công giết Vô-tri, cho người sang Lỗ rước Công-tử Củ về tức vị , cớ sao ngươi lại lập Tiểu-bạch lên . Thế thì còn gì là tín nghĩa ?
Nói rồi trương cung bắn Ung-lẫm.
Ung-Lẫm giả đò hổ ngươi đem binh trở lại.
Lỗ trang-Công khiến Tào-Muội đuổi theo .
Ung-lẫm quay xe trở lại đánh.
Nhưng đánh chưa được mười hiệp lại bỏ chạy nữa.
Tào-Muội tức giận, đốc binh tiến tới.
Lỗ trang- Công sợ Tào-Muội có điều sơ thất, liền khiến Tần-Tử và Lương-Tử kéo binh theo tiếp ứng.
Hai tướng kéo binh đi chưa khỏi vài dặm đường bỗng gặp đạo quân của Bảo Thúc-Nha chận lại.
Hai bên giao chiến rất hăng.
Lỗ trang-công được tin vội vã kéo đại binh đến tiếp cứu , chẳng ngờ vừa tới nơi thì binh phục của Ninh-Việt và Tôn trọng-Thu đã chờ sẵn nổi dậy phủ vây bốn mặt.
Binh Lỗ bị chận đánh nhiều đoạn, quân-lực không đủ, lại bị đánh bất ngờ, hàng ngũ rối loạn bõ chạy.
Bảo thúc-nha xua binh chém giết một hồi, rồi hô lớn :
– Ai bắt được Lỗ-hầu thì được trọng thưởng.
Binh Tề được lịnh xông vào đạo trung quân vây rất ngặt .
Tần-Tử thất kinh vội rút cây cờ hiệu của Lỗ trang-công quăng xuống đất.
Lương-tử lại nhặt lên, cắm vào xe mình.
Tần-Tử hỏi :
– Ta đã muốn cứu nguy cho Chúa công nên mới quăng cờ đi , sao Tướng-quân lượm làm chi ?
Lương-tử đáp :
– Ta cũng vì muốn cứu nguy cho Chúa-công mà lượm đó.
Lỗ trang-công hiểu ý cởi cả áo mão bỏ trên xe Lương-tử , rồi sang qua xe khác mà trốn .
Lương-tử tiếp lấy áo mão mặc vào, rồi đốc binh cự địch.
Ninh-việt thấy trên xe có cắm cờ hiệu, lại có người mặc long bào, ngỡ là Lỗ trang-công, nên dồn cả quân-lực về phía đó, quyết bắt sống cho được để lãnh thưởng.
Lương-tử chống cự một lúc, rồi cởi áo, nói lớn :
– Ta đây là Lỗ-tướng chứ đâu phải Lỗ-hầu mà chúng bay đánh hăng như vậy ?
Quân Tề nghe nói, xem lại thấy tướng Lỗ là Lương-Tử, nỗi giận chưởi rủa om sòm, rồi áp lại bắt sống, đem nạp cho Tề hoàn-công.
Tề hoàn-công truyền chém đầu tại chỗ.
Bảo thúc-nha biết Lỗ trang-công đã trốn thoát liền xua quân đuổi theo truy kích.
Quân sĩ la ó vang trời.
Lúc đó, Quản di-Ngô đang phòng thủ nơi hậu dinh, nghe tin báo trung quân của Lỗ-hầu bị bại trận, liền khiến Thiệu-hốt ở lại phò Công-tử Củ, còn mình xuất quân cứu ứng.
Vừa ra khỏi dinh đã gặp Lỗ trang-công hơ hải dẫn một số tàn-quân chạy về.
Lỗ trang-công nói :
– Quân ta đại bại, thế giặc rất hăng. Phải gấp gấp nhổ trại lui binh kẻo không kịp.
Quản di-ngô tuân lệnh , truyền nhổ trại tức khắc.
Ði chưa được bao xa, xảy thấy trước mặt có một đạo binh kéo đến.
Ấy là binh của Vương-tử Thành-phủ và Ðông Quách-nha vâng lệnh Bảo thúc-nha phục binh đón đường về.
Lỗ trang-công thất kinh than rằng :
– Ta đã lầm kế phục binh, trận nầy ắt khó thoát !
Tào-muội thấy thếm vội nói lớn :
– Chúa công hãy mau đi trước, để tôi liều thác đây mà cự với giặc.
Nói xong, quay qua hỏi Tần-Tử :
– Tướng-quân có vui lòng cùng tôi hy-sinh chăng ?
Tần-tử nói :
– Ðiểu đó ngài khỏi phải bận tâm.
Hai người giục ngựa tới trước, vung gươm cản Vương-tử Thành-phù và Ðông quách-nha lại.
Còn Quản di-ngô thì phò Lỗ trang-công, Thiệu-Hốt phò Công-tử Củ tìm đường tắt mà chạy về nước Lỗ.
Hai tướng Tề thấy Lỗ-hầu chạy thoát liền bỏ Tào-muội và Tần-tử, giục ngựa đuổi theo .
Lỗ trang-Công vội vàng rút cung tên bắn trở lại.
Quản di-ngô cũng tiếp tay .
Lỗ trang-công và Quản di-ngô là hai tay thiện-xạ , nên tướng Tề cả sợ chẳng dám tới gần.
Đến lúc Tào-muội và Tần-Tử theo kịp thì hai tướng Tề không dám đuổi theo nữa, quay lại đánh.
Tào-muội chống cự một lúc rồi mở huyết lộ thoát thân, còn Tần-tử thì bị chết giữa trận tiền.
Giết được tướng Lỗ, quân Tề đắc thắng trở về.
Bảo thúc-nha ra lệnh tập họp các toán binh sĩ, rồi cùng nhau hộ giá hồi loan.
Về đến Lâm-tri, Tề hoàn-công mở tiệc khao thưởng ba quân. Chúa tôi vui mừng hỉ-hạ.
Bảo thúc-nha nói :
– Công-tử Củ còn ở bên Lỗ, có Quản đi-Ngô và Thiệu-hốt phò tá lại thêm Lỗ-hầu bị thất bại vừa rồi, hết tình giúp đỡ, như thế thì mầm khởi loạn vẫn còn, chưa phải lúc chúng ta hoan-hỉ.
Tề hoàn-công hỏi :
– Vậy muốn trừ hậu-hoạn phải làm thế nào ?
Bảo thúc-nha nói :
– Nay nhân Lỗ-hầu vừa thất trận, quân sĩ kinh-hoàng, chúa tôi thất đởm , ta nhơn cơ-hội nầy kéo binh đến đóng nơi biên-giới, ép Lỗ hầu phải nạp Công-tử Củ. Tôi chắc rằng Lỗ-hầu phải sợ mà tuân lời .
Tề hoàn-công nói :
– Mọi việc ta cũng ủy-thác cho khanh, vậy khanh hãy liệu-lượng .
Bảo thúc-nha được lệnh, kiểm điểm ba vạn binh ròng và hai trăm cỗ chiến-xa, kéo đến đóng nơi mé sông Vạn-thủy . Rồi viết một phong thư sai Công tôn Thấp-bằng đem dâng cho Lỗ trang-công .
Bức thư như sau :
Ngoại-thần Bảo thúc-nha kính đệ Lỗ-hầu ngự lãm. Thuở nay, nhà không hai chủ, nước không thể để hai vua. Nay Chúa tôi đã thuận theo lòng dân, lên tức vị, nối nghiệp Tiên-quân thế mà Công-tử vẫn còn tranh lập là trái lẽ . Tuy nhiên, Chúa tôi vì tình ruột thịt không nỡ nhúng tay trong việc cốt-nhục tương tàn, cho nên cậy tay hiền- hầu vì Chúa tôi, mà giúp việc ấy. Còn Quản di-ngô và Thiệu-hốt là ngươi thù của Chúa tôi, xin hiền-hầu bắt nạp về cho Chúa tôi trị tội. Được thế, tình thân của hai nước Tề và Lỗ sẽ bền vững muôn đời.
Khi Thấp-bằng lãnh thư ra đi, Thúc-nha lại dặn thêm :
– Quản di-ngô là người kỳ-tài trong thiên-hạ, tôi đã tâu với Chúa-công xin đem va về dùng. Vậy tướng quân đến đó phải tùy cơ ứng-biến, đừng để cho Quản di-ngô bị chết hoặc liều mình .
Thấp-bắng nói :
– Nếu Lỗ-hầu muốn giết , thì tôi biết lấy lời gì mà can đặng ?
Thúc-nha nói :
– Tướng-quản nhắc lại chuyện bắn Chúa-công, ắt Lỗ-hầu phải nghe theo.
Thấp-bằng tuân lệnh, lãnh thư ra đi.

Hồi 16
Giử lời hứa , Thúc-nha tiến Quản-trọng
Lập mưu cao, Tào-Quới thắng binh Tề

Thấp-bằng qua đến nước Lỗ, và dâng thư cho Lỗ trang-công.
Lỗ trang-công vội-vã cho đòi Thi-bá đến, nói :
Ngày trước vì ta không nghe lời ngươi nên mới bị thua , nay binh lao mã liệt, Tiểu-bạch lại còn sai Bảo thúc-nha đem quân đến biên-giới, đòi nạp Công-tử Củ nữa. Nay chỉ có hai đường. Một là giết Công-tử Củ, hai là quyết sống chết với Tề một phen, ý khanh liệu thể nào ?
Thi-bá nói :
– Tiểu-bạch mới lập lên mà được lòng quân mến phục. Đánh một trận nơi Kiều-thời, ta đã thấy rõ Tiểu-bạch tài trí hơn Công-tử Củ nhiều . Nếu vì tình mà bảo vệ Công-tử Cũ , e nước Lỗ phải lâm nguy . Còn giết Công-tử Củ để bảo vệ nước Lỗ, lại tổn-thương đến tình nghĩa. Hai việc rất khó tính.
Lỗ trang-công suy nghĩ một lúc rồi hỏi :
– Khanh có cách gì tính cho song toàn chăng ?
Thi-bá nói :
– Đành phải hy-sinh Công-tử Củ vậy .
Lỗ trangCông ứa nước mắt, ruột xót như bào.
Lúc bấy giờ Công-tử Củ, Quản di-ngô và Thiệu-hốt đang ở tại Sanh-dậu.
Lỗ trang-công sai Công-tử Yến đem binh đến giết Công-tử Củ bắt Quản di-ngô và Thiệu-hốt bỏ vào tù xa.
Thiệu-hốt thấy vậy than rằng :
– Làm con nên vì cha mẹ mà chết, làm tôi nên vì Chúa mà hy-sinh , ấy mới phải đạo. Nay Công-tử Củ đã chết thì Hốt nấy còn sống mà làm chi.
Nói rồi đập đầu vào một cây cột mà tự vận .
Quản di-ngô nói :
– Nếu Thiệu-hốt đã liều chết theo Chúa, thì ta cũng nên vì Chúa mà giữ thân nầy lại, để có ngày minh oan cho Chúa ta.
Nói rồi bó tay chịu trói mà vào tù xa.
Công-tử Yến giải Quản di-ngô về triều .
Thi-bá thấy Quản di-ngô liền tâu với Lỗ trang-công :
– Công-tử Củ đã chết, lẽ ra Quản di-ngô phải vì Chúa và buồn rầu, nhưng tôi trông sắc mặt của va vẫn tươi tỉnh như thường, tỏ rằng va không sợ nước Tề bắt về giết. Nếu Tề đã không giết ắt dùng va, mà va là một nhân tài có thể đồ vương, định bá được. Vậy xin Chúa Công lưu lại mà dùng.
Lỗ trang-công nói Quản di-ngô là kẻ thù của Tiểu-bạch, lẽ nào Tiểu-bạch lại chịu dùng ?
Thi-bá nói :
– Một ông vua chí lớn, biết mưu đồ đại sự sẽ không vì một tư thù nhỏ mọn mà giết đi một nhân tài. Nếu Chúa-công không muốn dùng, xin đem giết đi rồi trả xác lại cho Tề mới khỏi lo về sau .
Lỗ trang-công còn đang dụ dự , Thầp-bằng vội quỳ tâu :
– Quản di-ngô trước kia đã bắn Chúa-công, Chúa-công tôi muốn tự tay mình giết chết mới hả lòng. Nay nếu quí-quốc đem giết đi, rồi trả xác lại, ắt Chúa-công tôi sẽ không nguôi được giận.
Lỗ trang-công giết Công-tử Củ cốt làm hài lòng nước Tề, nay sứ nước Tề tỏ ý như thế, nên không dám giết Quản di-ngô, bèn truyền đem Quản di-ngô, giao cho sứ Tề giải về nước.
Thấp-bằng lãnh tù xa, rồi bái biệt lui về.
Ngồi trong tù xa, Quản di-Ngô đoán biết đó là mưu của Bảo thúc Nha muốn cứu mình. Song lại sợ Thi-bá ăn năn cho người đuổi theo bắt giết đi, nên nóng lòng, muốn cho quân-sĩ mau mau vượt qua khỏi biên giới Lỗ.
Quản di-ngô bèn đặt ra bài hát cho vui mà quên cực nhọc, để đi cho mau .
Bài hát như vầy :
Thương chim hồng hộc mắc lồng
Ngoài kia bát ngát chập chổng núi non
Tấm lòng son
Dạ không mòn
Rừng cây còn đó, chim càng ước mong
Màn vũ-trụ , thu phong man-mác
Kiếp hải hồ, mây bạc lửng-lơ
Lồng son của kín bây giờ
Ngày mai ai biết mà ngờ ngày mai.
Thực vậy nhờ bài hát ấy mà quân sĩ quên cả mệt nhọc đi rất mau không mấy lúc qua khỏi biên giới nước Lỗ.
Lỗ trang-công sau khi đàm luận với Thi-bá, ăn năn hồi hận, vội sai Côqg-tử Yến đem quân đuổi theo để bắt Quản di-ngô lại, nhưng theo không kịp, đành phải trở về.
Quản di-ngô ngước mặt lên trời cười lớn, nói :
– Mạng ta chắc đặng sống rồi.
Khi đi tới đất Đường-phụ , Bảo thúc-nha đã chờ sẵn nơi đó để nghênh-tiếp.
Vừa thấy mặt Quản di-ngô, Thúc-nha mừng rỡ chạy đến mở tù xa đưa Quản di-ngô ra.
Quản di-ngô nói :
– Chưa có quân-mạng sao lại mở tù xa.
Bảo thúc-nha nói :
– Không hề chi, tôi sẽ tiến cử ông với Tề-hầu. Ông đã quên lời hứa của chúng ta ngày trước rồi sao ?
Quản di-ngô nói :
– Làm sao mà quên được. Nhưng trước kia khác, nay khác. Tôi với Thiệu-hốt phò Công-tử Củ mà chẳng làm nên việc, lại không trọn tiết làm tôi, còn mặt mũi nào dám chịu ơn kẻ địch !
Bảo thúc-nha nói :
– Câu chấp những việc nhỏ nhặt không thể thành danh được, cũng như không nhẫn nhục được những tiếng xấu nhỏ nhen, chẳng bao giờ làm nên đại sự . Ông có tài trị thiên hạ nhưng chưa gặp thời, còn chúa tôi là một người đại-lượng, nhưng thiếu người giúp. Nếu ông không tị-hiềm phò chúa tôi, chẳng khác nào như cây nước gặp nhau, dựng nên nghiệp bá, oai danh lừng lẫy trong thiên hạ, để tiếng muôn đời, thật là quí hóa.
Quản di-Ngô làm thinh như đang suy nghĩ điều gì.
Bảo thúc- Nha mở trói, dắt Quản di-ngô vào nhà Công-quán đãi-đằng, rồi cầm Quản di-ngô ở lại nơi Đường-phụ, một mình trở về triều ra mắt Tề hoàn-công, tâu rằng :
– Tôi về đây để chia buồn và đồng thời cũng chia vui với Chúa-công.
Tề hoàn-công hỏi :
– Có việc gì buồn, vui ta chưa hề biết ?
Bảo thúc-nha nói :
– Việc buồn là Công-tử Củ, anh ruột của Chúa-công đã bõ mình. Biết rằng vì nước bất đắc dĩ phải để Công-tử Củ chết, nhưng tình cốt-nhục không thể không buồn !
Tề hoàn Công nghe nói thở dài.
Bảo thúc-nha nói tiếp :
– Còn việc vui là Quản di-ngô chưa chết, và đã được đưa về nước Chúa-công sẽ gặp được một nhân tài lẽ nào lại chẳng vui .
Tề hoàn-công nói :
– Quản di-ngô bắn ta một mũi tên, hiện nay mũi ten ấy ta còn giữ, lòng oán hận chưa nguôi, lẽ nào ta lại dùng va được sao ?
Bảo chúc-nha nói :
– Làm tôi thì ai cũng phải hết lòng vì Chúa. Quản di-ngô bắn Chúa-công là vì lúc đó Quản di-ngô phò Công-tử Củ, trong lòng chỉ biết có Công-tử Củ mà không biết đến Chúa-công. Nay Chúa-công dùng Quản di-Ngô, thì Quản di-ngô lại vì Chúa-công mà bắn thiên-hạ. Chính những kẻ như thế mới đáng là trung thần.
Tề hoàn-công tươi ngay nét mặt, như hiểu được sự kỳ-diệu của lòng người, nói :
– Nếu khanh không nói, thì ta đã nghĩ đến điều oán-hận nhỏ nhen mà quên cả đại-sự.
Bảo thúc-Nha cả mừng cúi lạy lui ra, đến đón Quản di-Ngô, mời về tư-dinh mà bàn bạc.
Tề hoàn-công nghị thưởng các công thần đã có công với nước, phong cho Cao-Quốc làm chức Thế-khanh, và Bảo thúc-nha làm Thượng khanh, lại muốn giao hết việc triều-chính cho Bảo thúc-nha.
Bảo thúc-nha tâu :
– Chúa-công ban ơn cho tôi được no ấm thì cũng đũ rồi , còn việc trị nước, tài tôi thật không đũ.
Tề hoàn-công nói :
– Ta hiểu tài đức của khanh lắm, khanh chớ khiêm nhượng làm chi .
Bảo thúc-nha nói :
– Chúa-công biết tôi là người kính-cẩn , có thể giữ đúng bổn phận của mình chứ không phải có tài chính-trị. Tài chính-trị phải là kẻ nhìn xa thấy rộng, trên hiểu lòng vua, dưới rõ bụng dân, biết sức mình, lượng sức địch, lúc thái-bình cũng như cơn nguy biến, đũ sức làm chủ được mình mà điều khiển công việc. Những điều đó tôi không thể có được.
Tề hoàn Công nghe nói mỉm cười, bước đến bên Thúc-nha hỏi nhỏ :
– Người mà khanh vừa nói đến, trong đời nầy có thể có được chăng ?
Bảo thúc-nha nói :
– Có Người đó đang ở trong nước chúng ta. Nếu Chúa-công xét thấy cần người như vậy thì đã sẵn có Quản di-ngô.
Tề hoàn-công nói :
– Tài Quản di-ngô lại hơn khanh được sao ?
Bảo thúc-nha nói :
– Có năm điều tôi không bằng được Quản di-ngô : Thứ nhất rộng rãi mềm mỏng, ra ơn với dân, tôi không bằng được Thứ hai : lấy trung tín mà mua lòng bá tánh, tôi không bằng được. Thứ ba: trị nước không sai giềng mối, tôi không bằng được. Thứ tư: chế lễ nghĩa ra khắp bốn phương , tôi không bằng được. Thứ năm : cầm dùi thẳng đứng giữa ba quân giục lòng quân sĩ, tôi không bằng được .
Tề hoàn-công nói :
– Nếu Quản di-ngô là kẻ có tài thì khanh đòi vào yết kiến, để ta xem thư tài học vấn của Quản di-ngô đến bực nào?
Bảo thúcha nói :
– Người hèn không dám gần gũi với kẻ sang, kè sơ không dám sánh với người thân. Nếu Chúa-công muốn dùng Quản di-ngô thì phải cho va làm đến chức Tướng-quốc, đối đãi như sư-phụ, thì con người tài ấy mới đem hết sở-năng của mình mà hiến cho Chúa-công được.
Tề hoàn-công nói :
– Theo ý của khanh thì ta phải làm cách nào để triệu Quản di-ngô ?
Bảo thúc-nha nói :
– Quản di-ngô là bậc phi-thường trong thiên-hạ. Các bậc Tiên-vương thuở xưa muốn được người hiền phải thân hành đem lễ vật đến cầu. Lúc người hiền đã về triều thì phải để ăn chung một bàn , ngồi chung một chiếu. Xin Chúa-công hãy noi gương ấy để thiên-hạ thấy Chúa-công là người biết quí kẻ hiền-sĩ.
Tề hoàn-công nghe lời, đòi quan Thái-bốc đến hỏi ngày lành, rồi thân hành đi đón Quản di-ngô.
Bảo thúc-nha tin cho Quản di-ngô biết trước để nghinh đón.
Tề hoàn-công và Quản di-ngô cùng ngồi chung một xe mà về triều.
Mọi người đón xem đông đặc, ai nấy đều lấy làm lạ lùng.
Quản di-ngô về đến Kim-loan điện , phục lạy Tề hoàn-công, và tâu:
– Tâu Chúa-công, tôi là kẻ trọng tội, đáng chết, được Chúa-công dung thứ đã là may lắm. Nay Chúa-công lại nhọc lòng ban ơn nữa . Thật tôi không biết phải lấy gì đến đáp cho xứng đáng.
Tề hoàn-công nói :
– Tiên-quân ta có âm-đức rất lớn, mới khiến ta được gặp khanh . Vậy khanh hãy vì ta mà có đôi lời chỉ giáo, chẳng những ta mang ơn, mà cả dân chúng nước Tề cũng lấy làm vinh hạnh .
Nói xong, đỡ Quản di-ngô dậy, mời ngồi nơi chiếc cẩm-đôn bên cạnh.
Quản di-ngô sụp lạy rồi mới lên ghế ngồi.
Tề hoàn-công hỏi :
– Nước Tề ta vốn là một nước lớn, Tiên-quân ta là Hi-công đã làm cho các chư-hầu kính nể. Đến đời Tương-Công chính lệnh bất thường, đến nỗi xẩy ra tai biến. Nay ta vừa mới lên ngôi, lòng dân chưa định thế nước chưa yên, nay muốn cho nước mạnh dân an phải làm điều gì trước ?
Quản di-ngô nói :
– Lễ , nghĩa, liêm, sĩ là bốn điều cốt yếu để trị nước. Nếu thiếu một trong bốn điều đó tai-biến sẽ xảy ra. Nếu cả bốn điều đó không có, thì nước sẽ mất.
Tề hoàn-Công hỏi :
– Nếu đã có bốn điều đó thì dùng cách nào mà trị dân ?
Quản di-ngô nói :
– Muốn trị dân trước hết phải yêu dân.
Tề hoàn-công hỏi :
– Muốn yêu dân phải làm cách nào ?
Quản di-ngô nói :
– Yêu dân phải dạy dân lấy đạo thân ái, chăm sóc đời sống hàng ngày cho dân, bớt xâu giảm thuế , làm cho dân giàu. Hễ dân giàu tức là nước mạnh.
Tề hoàn-công hỏi :
– Dân giàu, nhưng binh-khí, quân-cụ trong nước thiếu-thốn thì phải làm sao ?
Quản di-ngô đáp :
– Muốn đũ binh khí, quân-cụ thì hình pháp trong nước nên đặt lệ cho chuộc tội : Tội nặng cho chuộc một cái tê-giáp, tội nhẹ cho chuộc một cái quy-thuẫn, tội nhỏ cho nạp kim-khí, tội nghi thì tha hẳn. Kẻ nào tụng lý tương đối thì bắt nộp một bó tên rồi giải hòa . Làm như thế ắt quân dụng không thiếu.
Tề hoàn-công hỏi :
– Đã làm như vậy nhưng không đũ dùng thì phải làm sao ?
Quản di-ngô nói :
– Khai mỏ, đúc tiền , nấu nước bể làm muối, trữ hàng hóa lấy lãi , cắt ba trăm nhà nữ-lưu cho các khách buôn bán đi lại tụ họp ở đó mà đánh thuế. Như vậy, công quỹ phải đủ dùng.
Tề hoàn-công hỏi :
– Của dùng đã đủ , nhưng quân lính còn ít, không đũ sức mạnh thì làm sao ?
Quản di-ngô nói :
– Quân không cần nhiều, chỉ cần tinh nhuệ. Mạnh không vì sức, mà cốt ở tinh thần. Do đó, Chúa-công muốn có binh mạnh chỉ cần giử vững lòng quân , rèn luyện kỹ thuật chiến đấu là đủ .
Tề hoàn-công hỏi :
– Binh thế đã mạnh, có nên đi đánh các nước chư-hầu chăng ?
Quản di-ngô đáp :
– Chưa nên đánh vội . Làm chủ các chư hầu không phải đem sức mạnh hăm dọa, mà phải đem đạo đức ra chinh phục. Trước hết , phải đặt mình lên một địa vị chính đáng đã, sau sẽ dùng cái địa vị đó mà trấn an các chư-hầu.
Tề hoàn-công hỏi :
– Làm thế nào để đặt mình vào địa vị chính đáng ?
Quản di-ngô đáp :
– Danh chánh ngôn thuận là ý muốn của mọi người. Các chư-hầu đều có bổn phận phải tuân vương-mạng. Vậy trước tiên, Chúa-công phải kính trọng nhà Châu và bắt các chư-hầu cũng phải kính trọng như mình.
Tề hoàn-công hỏi :
– Rồi làm thế nào để trấn an các chư-hầu.
Quản di-ngô đáp :
– Phải đem đạo-đức mà giao hữu với họ. Đem tất cả các đất đai đã chiếm được trả cho họ để tỏ ra mình không tham lam, lại đem lễ vật đến khắp nơi cầu người hiền đem về nước mà dùng . Nước chư-hầu nào bị loạn tặc, đem quân đến cứu. Làm như vậy nước nào không mến phục.
Tề hoàn-công hỏi :
– Xưa nay đất rộng, dân đông là biểu hiệu cho nước giàu mạnh mà khanh lại bảo không nên đem quân lấn đất giành dân thì làm sao cho nước hùng ?
Quản di-Ngô nói :
– Đem sức mạnh chiếm đất cũng chỉ chiếm được một phần nhỏ nào thôi, vì chiếm rồi còn phải giữ , nếu không đủ sức giữ sẽ bị mất. Còn đem đạo đức mà chiếm đặt thì đặt không cần phải giữ, do đó có thể chiếm bao nhiêu cũng được.
Tề hoàn-công cùng Quản di-ngô nói chuyện trong ba ngày đêm , mà không biết chán.
Tề hoàn-công lấy làm đắc ý, phong cho Quản di-ngô làm Tể-tướng.
Quản di-ngô từ chối không nhận .
Tề hoàn-Công nói :
– Bởi ta muốn theo sách lược của khanh nên phải dùng khanh bỉnh chánh , cớ gì khanh lại từ chối ?
Quản di-ngô nói :
– Không phải sức một cây gỗ có thể làm nên một nhà lớn, không phải sức một giòng nước tạo nỗi một bể cả . Nếu Chúa-công đã có chí lớn thì nên dùng đến năm kiệt-sĩ.
Tề hoàn-công hỏi :
– Năm kiệt-sĩ ấy là ai ? Tài năng như thế nào ?
Quản di-ngô nói :
– Có tài giao-thiệp, biết giữ lễ phép thì tôi không bằng Thấp Bằng, xin cho Thấp-bằng làm Đại Tư-hanh. Có tài khai khẩn, biết cách trồng trọt thì tôi không bằng Ninh-Việt, xin cho Ninh-việt làm Đại Tư-điền. Có tài luyện tập quân-sĩ, khiến cho người ta quên chết thì tôi không bằng Thành-phủ, xin cho Thành-phủ làm Đại Tư-mã. Có tài xử đoán, khiến người ta khỏi bị hàm oan, thì tôi không bằng Tân tu-vô, xin cho Tân tu-vô làm Đại Tư-lý. Có tính cương trực, thấy điều trái tất phải nói ngay, thì tôi không bằng Đông quách-nha, xin cho Đông quách-nha làm Đại Giám-quan. Chúa-công trọng dụng năm người ấy ắt trong nước được cường thịnh.
Tề hoàn-công nghe theo lời Quản di-ngô phong-chức cho năm người ấy, và quyết-định phong cho Quản di-ngô làm Tể-tướng.
Quản di-ngô nói :
– Chúa-công đã có chí lớn, dẫu tài tôi hèn mọn cũng xin cố sức mà vâng lệnh Chúa-công.
Tề hoàn-công lại hỏi :
-Ta bình sanh có tánh ưa săn bắn, lại thích nữ sắc chẳng hay hay điều ấy có hại đến nghiệp bá chăng ?
Quản di-ngô đáp :
– Đã rõ được nhược điểm của mình tất không hại.
Tề hoàn-công hỏi :
– Thế thì điều gì mới có hại cho nghiệp bá ?
Quản di-ngô nói :
– Không biết người hiền là hại. Biết người hiền mà không dùng là hại. Dùng người hiền mà không dám phú thác việc lớn là hại . Phú chác việc lớn mà để kẻ tiểu nhơn xen vào là hại .
Tề hoàn-công khen phải.
Từ đó công việc triều chính đều phó thác cho Quản di-ngô, lại gọi Quản di-ngô bằng Trọng-phụ . Hễ có việc gì lớn, đều hỏi ý kiến Quản di-ngô trước. Tề hoàn-công lại cấm người trong nước không được gọi Quản di-Ngô, mà chỉ gọi là Quản-Trọng. Vì Trọng là tên chữ, còn Di-Ngô là tên tộc.
Nhắc qua Lỗ trang-công từ ngày thả Quản-trọng về nước Tề có ý hơi tiếc, nay lại được nghe Tề-hầu phong cho Quản-trọng làm Tướng-quốc, lòng tức tối không an, kéo binh sang đánh trả thù việc thất trận ngày trước .
Tề hoàn-công hay đặng tin, hỏi Quản-trọng :
– Ta mới lên ngôi, không muốn để cho nước ngoài tới đánh, vậy nên tính chuyện phạt Lỗ trước là hơn.
Quản-trọng nói :
– Quân chánh chưa yên, chưa thể dùng chinh phạt được.
Tề hoàn-công không nghe khiến Bảo thúc-nha làm tướng, đem binh thẳng đến đất Trường-thược mà đánh Lỗ .
Lỗ trang-công hay tin, hỏi Thi-bá :
– Nước Tề khinh ta thái thậm. Ta muốn đem binh phạt Tề nhưng chưa kịp, thì Tề đã sai tướng sang đánh nước ta . Vậy khanh có kế chi cự địch chăng ?
Thi-bá nói :
– Tôi xin tiến cử một người đủ tài trí, có thể đánh lui binh Tề đặng.
Lỗ trang-công cả mừng, hỏi :
– Chẳng hay người ấy là ai ?
Thi-bá nói :
– Tôi có quen biết ai một người ở ẩn tại làng Đông-bình, tên là Tào-quới , thuở nay chưa ra làm quan, nhưng kinh luân thao lược gồm đũ.
Lỗ trang Công chuẩn tấu, khiến Thi-bá đến Đông-bình rước Tào-quới về triều.
Thi-bá đến nơi, nói rõ ý định của mình.
Tào-Quới vừa cười vừa nói :
– Người ăn thịt còn lo chưa nỗi, huống hồ kẻ đang ăn rau.
Thi-bá nói :
– Ăn rau mà có tài rồi cũng đến ngày ăn thịt vậy.
Hai người dắt nhau đến yết kiến Lỗ trang-công.
Lỗ trang-công hỏi Tào-quới :
– Muốn cự binh Tề phái liệu kế chi ?
Tào-quới tâu :
– Việc binh phải tùy cơ ứng biến. Chưa nắm được địch tình không thể định trước.
Lỗ trang-công khen phải, bèn cùng với Tào-Quới cử binh kéo đến Trường-thược.
Bảo thúc-Nha vì trước đây đã thắng binh Lỗ, nên nay có ý khinh địch. Nghe tin Lỗ-hầu kéo binh tới thì lập tức hạ lệnh tiến quân.
Trại quân Lỗ vừa đóng xong binh Tề đã ào tới.
Lỗ trang-công muốn đem binh xuất trận, Tào Quái can rằng :
– Quân Tề ỷ mạnh, thế quân đang hăng. Ta nên chống giữ đã.
Nói xong, truyền cho quân sĩ chống giữ các cửa trại , nhất thiết không được trái lệnh.
Quân Tề thấy quân Lỗ không đánh, buộc phải rút lui.
Bảo thúc-Nha nghĩ thầm :
– Quân Lỗ bị thất trận trước kia đến nay còn khiếp sợ , nếu ta giục trống đến cướp trại, ắt chúng phải bỏ chạy.
Nghĩ rồi giục trống cho quân sĩ ào tới trại Lỗ một lần nữa.
Quân Lỗ vẫn cố-thủ, quân Tề không làm sao xông vào nỗi, nên một lần nữa lại phải rút lui.
Lúc đó Tào-quới tâu với Lỗ trang-công :
– Lúc nầy có thể phá quân Tề được, xin Chúa-công ra lệnh tiến quân.
Lỗ trang-công nghe theo, giục trống ra lệnh cho quân Lỗ ào ra khối trại , áp tới đánh quân Tề như vũ bão.
Tề cả thua, bõ chạy.
Lỗ trang-công muốn giục trống đuổi theo.
Tào-quới nói :
– Hãy khoan, xin để tôi xem lại thế trận đã. Nói xong, liền xuống xe, leo lên chỗ cao xem xét một hồi , rồi nói : Đúng là nên đuổi theo truy cản.
Lỗ trang-công xua binh đuổi theo chém giết binh Tề, đoạt khí giới và lương thực không biết bao nhiêu mà kể.

Xem tiếp Hồi 17-20 | HOME | Back to Top